Antoanlaodong
Đang tải dữ liệu...

Chào mừng các bạn đến với trang thông tin điện tử An toàn vệ sinh lao đông!
Tìm kiếm
Giới thiệu Cục ATLĐ
Tin tức - Sự kiện
Tình hình tai nạn LĐ
Văn bản pháp luật
Danh mục Tiêu chuẩn
Công ước - Khuyến nghị
Chương trình quốc gia
Hồ sơ quốc gia
Tuần lễ quốc gia
Mạng thông tin ATVSLĐ
Nghiên cứu - Thống kê
Kiến thức - Huấn luyện
Hợp tác quốc tế
Liên hệ - Gửi bài
Giải thưởng Doanh nghiệp tiêu biểu về ATVSLĐ
Hoạt động ATVSLĐ do ILO - WHO hỗ trợ
Web liên kết
Gương tốt ATVSLĐ

Ngày Thế giới về ATVSLĐ - 28/4

Các cơ quan ATVSLĐ quốc tế
Giải thưởng Doanh nghiệp tiêu biểu về ATVSLĐ
Trang chủ  >  Tiếng Việt  >  Nghiên cứu - Thống kê

Tình hình tai nạn tháng 6 năm 2005

BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH
VÀ XÃ HỘI


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------------------------

Số: 2556 / LĐTBXH-TTr

Hà Nội, ngày 10 tháng 8 năm 2005


THÔNG BÁO
TÌNH HÌNH TAI NẠN LAO ĐỘNG 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2005


Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thông báo đến các ngành, các địa phương tình hình tai nạn lao động trong 6 tháng đầu năm 2005 và một số giải pháp chủ yếu nhằm chủ động ngăn ngừa sự cố và tai nạn lao động trong 6 tháng cuối năm 2005 như sau :

A. TÌNH HÌNH CHUNG

I. Số vụ tai nạn lao động (TNLĐ).
Theo số liệu thống kê, báo cáo chưa đầy đủ của 64 tỉnh, thành phố trong 6 tháng đầu năm 2005 đã xảy ra 2.596 vụ tai nạn lao động (trong đó có 288 vụ tai nạn được coi là TNLĐ) làm 2.670 người bị nạn, có 237 vụ TNLĐ chết người làm 252 người bị chết, 607 người bị thương nặng.

II. Tình hình TNLĐ ở các địa phương.
Các địa phương xảy ra nhiều tai nạn lao động chết người trong 6 tháng đầu năm là:

- Thành phố Hồ Chí Minh: 216 vụ làm 223 người bị nạn, trong đó có 30 vụ chết người (chiếm 12,6 % tổng số vụ chết người), làm 31 người chết, 70 người bị thương nặng;

- Đồng Nai: 907 vụ làm 922 người bị nạn, trong đó có 22 vụ chết người (chiếm 9,3% tổng số vụ chết người ), làm 22 người chết, 122 người bị thương nặng ; đặc biệt có 14 vụ có từ 2 người bị nạn trở lên;

- Quảng Ninh: 131 vụ làm 135 người bị nạn, trong đó có 15 vụ chết người (chiếm 6,3 % tổng số vụ chết người) làm 18 người chết, 65 người bị thương nặng; đặc biệt có 1 vụ làm chết 4 người.

- Hà Tây: 25 vụ làm 26 người bị nạn, trong đó có 14 vụ chết người (chiếm 5,9 % tổng số vụ chết người), làm 15 người chết, 11 người bị thương nặng;

- Đà Nẵng: 36 vụ làm 44 người bị nạn, trong đó có 11 vụ chết người (chiếm 4,6 % tổng số vụ chết người), làm 11 người chết, 11 người bị thương nặng;

- Hà Nội: 45 vụ làm 47 người bị nạn, trong đó có 10 vụ chết ngườ i (chiếm 4,2 % tổng số vụ chết người), làm 11 người chết, 25 người bị thương nặng;

- Bình Dương: 79 vụ làm 79 người bị nạn, trong đó có 9 vụ chết người (chiếm 3,8 % tổng số vụ chết người), làm 9 người chết;

- Thanh Hóa: 24 vụ làm 25 người bị nạn trong đó có 8 vụ chết người (chiếm 3,4 % tổng số vụ chết người), làm 8 người chết, 17 người bị thương nặng;

- Hải Phòng: 245 vụ làm 249 người bị nạn, trong đó có 6 vụ chết người (chiếm 2,5% tổng số vụ chết người) làm 6 người chết, 32 người bị thương nặng.

B. PHÂN TÍCH CÁC VỤ TAI NẠN LAO ĐỘNG.

I. Những lĩnh vực xảy ra nhiều tai nạn lao động.

1- Do thiết bị, máy, cán, cuốn, kẹp: Xảy ra 534 vụ, chiếm tỷ lệ 23,1% tổng số vụ tai nạn lao động (không tính các vụ tai nạn được coi là TNLĐ);

2- Sử dụng các thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ:Xảy ra 335 vụ, chiếm tỷ lệ 14,5% tổng số vụ tai nạn lao động, trong đó:

- Sử dụng thiết bị áp lực: Xảy ra 33 vụ ;

- Sử dụng thiết bị nâng, thang máy: Xảy ra 302 vụ,

3- Sập lò, khai thác khoáng sản và khai thác đá:

Xảy ra 231 vụ, chiếm tỷ lệ 10% tổng số vụ tai nạn lao động, trong đó:

- Xảy ra 184 vụ TNLĐ trong khai thác than chiếm tỷ lệ 7,9%;

- Xảy ra 25 vụ sập đất đá trong khai thác đá chiếm tỷ lệ 1,1%;

- Trong sử dụng vật liệu nổ: Xảy ra 22 vụ, chiếm tỷ lệ 0,9%;

4 - Xây dựng: Xảy ra 160 vụ, chiếm tỷ lệ 6,9% tổng số vụ tai nạn lao động;

5- Lắp đặt, sửa chữa và sử dụng điện: Xảy ra 99 vụ, chiếm tỷ lệ 4,3% tổng số vụ tai nạn lao động;

6- Các lĩnh vực khác: Xảy ra 288 vụ tai nạn (do phương tiện giao thông, sét , bão, lũ ….) được coi là TNLĐ làm 302 người bị nạn.

II. Đánh giá chung.
Qua phân tích tình hình tai nạn lao động 6 tháng đầu năm 2005 cho thấy:

1- So với 6 tháng đầu năm 2004 tổng số vụ TNLĐ tăng 4,1%. Số vụ TNLĐ chết người tăng 5,5 % và số người chết tăng 5,6 % (6 tháng đầu năm 2004 xảy ra 224 vụ TNLĐ chết người làm 238 người chết).

2- Những địa phương có tai nạn lao động chết người vẫn ở mức cao so với 6 tháng đầu năm 2004: Đồng Nai (tăng 72,7 % số vụ TNLĐ chết người), Quảng Ninh (tăng 46,7 % số vụ TNLĐ chết người), Thành phố Hồ Chí Minh (tăng 13,3 % số vụ TNLĐ chết người)..v..v.
Một số địa phương có số vụ tai nạn lao động chết người tăng cao so với cùng kỳ là Hà Tây, Đồng Nai, Đà Nẵng, Bình Dương, Hoà Bình.

3- Những địa phương có tai nạn lao động chết người giảm so với 6 tháng đầu năm 2004: Khánh Hoà (giảm 75 % số vụ TNLĐ chết người), Hà Nội (giảm 64,3% số vụ TNLĐ chết người), Thái Nguyên (giảm 50% số vụ TNLĐ chết người), Bình Định (giảm 33,3 % số vụ TNLĐ chết người)…v.v.

III. Nguyên nhân xảy ra các vụ TNLĐ chết người

a, Về phía người sử dụng lao động:

- Không huấn luyện về an toàn lao động cho người lao động (148 vụ chiếm 5,7% về số vụ)

- Không đảm bảo điều kiện làm việc và môi trường làm việc an toàn cho người lao động theo quy định tại các tiêu chuẩn (71 vụ chiếm 2,7% về số vụ);

- Thiết bị không đảm bảo an toàn, không có thiết bị an toàn. Nhiều máy, thiết bị, công cụ sản xuất không đảm bảo an toàn vẫn đưa vào sử dụng; (116 vụ chiếm 4,4%)

- Không có quy trình biện pháp an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm (108 vụ chiếm 4,1% về số vụ).

- Nguyên nhân khác (768 vụ chiếm 29,5% về số vụ): Không thường xuyên kiểm tra nhắc nhở người lao động tuân thủ các quy định của Nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động; Không thực hiện đúng các quy định tại Thông tư liên tịch số 14/1998/TTLT-BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN ngày 31/10/1998 của Liên tịch Bộ Lao động Thương binh và Xã hội – Bộ Y tế – Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam hướng dẫn việc tổ chức thực hiện công tác bảo hộ lao động trong doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh; Không trang bị đầy đủ các phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động và những nguyên nhân khách quan khó tránh..v.v…

b, Về phía người lao động:

- Nhiều người lao động xuất phát từ các vùng nông thôn đi làm thuê không được đào tạo cơ bản qua trường lớp, khi vào làm việc lại chỉ được hướng dẫn về các thao tác trong công việc vì vậy không hiểu biết luật pháp an toàn lao động, không biết các mối nguy hiểm cần phải đề phòng trong môi trường lao động của mình…Vì vậy có 927 vụ do người lao động vi phạm các quy định về an toàn lao động chiếm 35,7% tổng số vụ.

- Có 51 vụ do người khác vi phạm quy định về an toàn lao động. Một số người lao động mặc dù đã được đào tạo cơ bản, được huấn luyện kỹ về an toàn lao động nhưng do chủ quan, chạy theo năng suất, ý thức chấp hành kỷ luật kém… nên đã gây ra những TNLĐ đáng tiếc cho bản thân và những người làm việc bên cạnh.

- Có 97 vụ do không sử dụng các trang bị, phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động mặc dù đã được người sử dụng lao động cấp phát đủ và hướng dẫn cách sử dụng.

c, Về phía các cơ quan quản lý Nhà nước:

- Công tác chỉ đạo chưa thường xuyên, thiếu nhạy bén dẫn đến việc thực hiện công tác bảo hộ lao động ở doanh nghiệp chưa tốt.

- Số cuộc thanh tra, kiểm tra về thực hiện pháp luật lao động với các doanh nghiệp còn ít, hiệu quả chưa cao. Số lượng, chất lượng thanh tra viên chưa tương xứng với yêu cầu. Nhiều địa phương do thiếu thanh tra viên lao động nên hầu hết chỉ tiến hành các cuộc kiểm tra liên ngành mà không tiến hành được các cuộc thanh tra lao động. Do đó không kịp thời phát hiện những vi phạm pháp luật Lao động, dẫn đến nhiều vụ TNLĐ nghiêm trọng đã xảy ra.

- Một số lĩnh vực quản lý còn lỏng lẻo như: các doanh nghiệp tư nhân, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Lao động trong nông, lâm, ngư nghiệp, các hộ kinh doanh cá thể, các làng nghề.

- Việc xử lý các vụ TNLĐ chết người đặc biệt nghiêm trọng chưa nghiêm, 6 tháng đầu năm 2005 các đoàn điều tra tai nạn lao động đề nghị truy tố 2 vụ. Việc xử lý hành chính theo thẩm quyền đối với những người vi phạm để xảy ra TNLĐ nghiêm trọng cũng chưa nghiêm, chưa kịp thời.

- Một số vụ xác định nguyên nhân gây tai nạn chưa chính xác nên chưa đưa ra đúng và đầy đủ các biện pháp phòng ngừa TNLĐ tái diễn.

IV. Thiệt hại về vật chất

Theo số liệu báo cáo chưa đầy đủ của các địa phương, thiệt hại về vật chất do tai nạn lao động xảy ra trong 6 tháng đầu năm 2005 (chi phí tiền thuốc men, mai táng, tiền bồi thường cho gia đình người chết và những người bị thương, thiệt hại tài sản, ...) là 12.140.610.000đ; trong đó thiệt hại về tài sản là 1.610.470.000đ. Đặc biệt tổng số ngày nghỉ ( kể cả nghỉ chế độ ) do TNLĐ lên đến 35.768 ngày.

V. MỘT SỐ VỤ TAI NẠN LAO ĐỘNG CHẾT NGƯỜI NGHIÊM TRỌNG TRONG 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2005

1. Vụ TNLĐ sập lò khai thác than ngày 28/01/2005 tại Xí nghiệp xây lắp và sản xuất than Khe chàm II - Công ty Than Hạ Long làm chết 4 người. Nguyên nhân chính là công tác kiểm tra, giám sát thực hiện các quy định về an toàn lao động chưa tốt, trình độ chuyên môn của công nhân hạn chế. Tổ chức sản xuất của cán bộ chỉ huy sản xuất của KT4 chưa chặt chẽ thiếu kiên quyết đã gây hậu quả nghiêm trọng.

2. Vụ TNLĐ nổ khí mêtan ngày 25 tháng 4 năm 2005, tại Mỏ than Đồi Hoa của Công ty Cổ phần Khoáng sản Hoà Bình (huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hoà Bình) làm chết tại chỗ 6 người. Nguyên nhân do điều kiện làm việc không an toàn, không đo môi trường lao động và vi phạm quy định an toàn lao động trong khai thác mỏ.

3. Vụ TNLĐ đứt cáp máy vận thăng trong xây dựng làm chết 2 ngưòi tại công trường xây dựng nhà chung cư B3C nam Trung Yên, Hà Nội do Công ty Đầu tư và phát triển nhà số 6 Hà Nội thi công. Nguyên nhân do thiết bị không đảm bảo an toàn, không đăng kí, kiểm định thiết bị sau lắp đặt, không huấn luyện an toàn lao động cho công nhân, công nhân vận hành không có chứng chỉ đào tạo.

4. Vụ TNLĐ sập mái tôn nhà xưởng đang lợp làm chết 2 công nhân của Công ty cổ phần xây dựng VINASHIN thuộc Tổng công ty Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam do vi phạm quy trình, biện pháp an toàn và công tác kiểm tra thiếu chặt chẽ.

VI- TÌNH HÌNH ĐIỀU TRA VÀ THỐNG KÊ BÁO CÁO TAI NẠN LAO ĐỘNG

1. Điều tra.

Nhìn chung hầu hết các vụ TNLĐ đã được điều tra đúng quy định tại Thông tư liên tịch số 14/2005/TTLT-BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN ngày 08/3/2005 của Liên tịch Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội – Bộ Y tế – Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Tuy nhiên nhiều địa phương còn chậm gửi biên bản điều tra về Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội. Trong số 237 vụ tai nạn lao động chết người 6 tháng đầu năm, đến ngày 02/8/2005 Bộ mới nhân được biên bản điều tra của 102 vụ.

So với 6 tháng đầu năm 2004, một số địa phương đã tiến hành điều tra TNLĐ khẩn trương và kịp thời như: Quảng Ninh, Hà Nội, Tp. Hải Phòng.

2. Báo cáo tai nạn lao động.

Nhiều địa phương đã thực hiện tốt việc báo cáo tình hình TNLĐ theo mẫu mới quy định tại Thông tư liên tịch số 14/2005/TTLT-BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN ngày 08/3/2005 của Liên tịch Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội – Bộ Y tế – Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Một số địa phương vẫn báo cáo theo mẫu cũ tại Thông tư số 23/LĐTBXH-TT ngày 18/11/1996 của Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội. Tuy nhiên một số địa phương vẫn chưa phân tích được tình hình TNLĐ nói chung mà chỉ thống kê được tổng số vụ TNLĐ chết người; Nhiều địa phương chưa thống kê, báo cáo đầy đủ số doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn và số doanh nghiệp có báo cáo. Một số chỉ tiêu trong mẫu báo cáo chưa cập nhật và tổng hợp đầy đủ hoặc thiếu chính xác; Vì vậy việc Tổng hợp đánh giá tình hình tai nạn lao động toàn quốc 6 tháng đầu năm 2005 gặp nhiều khó khăn. Còn 04 tỉnh báo cáo không xảy ra vụ tai nạn lao động nào như Lai Châu, Vĩnh Long, Quảng Ngãi, Ninh Thuận; Báo cáo số liệu chưa hợp lí như Tây Ninh, Yên Bái …

Tình trạng Doanh nghiệp không báo cáo TNLĐ theo quy định ngày càng nhiều, trong 6 tháng đầu năm 2005 chỉ có 3312 đơn vị, DN tham gia báo cáo. Hà Nội có 64 cơ sở có báo cáo chiếm 0,21% trên tổng số 29250 cơ sở ; Đà Nẵng có 23 cơ sở có báo cáo chiếm 0,58% trên tổng số 3944 cơ sở; TP Hồ Chí Minh có 199 cơ sở có báo cáo.

C. MỘT SỐ NỘI DUNG CHỦ YẾU CẦN THỰC HIỆN TRONG THỜI GIAN TỚI

Căn cứ vào tình hình và nguyên nhân xảy ra TNLĐ trong 6 tháng đầu năm 2004, để chủ động phòng ngừa TNLĐ trong thời gian tới, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đề nghị các Bộ, ngành, địa phương và các doanh nghiệp thực hiện tốt các nội dung chính sau đây:

1- Thực hiện đầy đủ các quy định của Nhà nước về ATLĐ,VSLĐ và các chế độ BHLĐ. Tăng cường huấn luyện về an toàn lao động đối với người sử dụng lao động và người lao động theo quy định tại Thông tư số 08/TT-LĐTBXH ngày 11/4/1995 và Thông tư số 23/TT-LĐTBXH ngày 19/9/1995 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội. Đặc biệt chú ý đối với những người lao động làm các công việc nặng nhọc, nguy hiểm, độc hại hoặc tiếp xúc với những đối tượng có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, vệ sinh lao động và những người lao động hành nghề tự do.

2- Theo chức năng, nhiệm vụ của mình, tăng cường thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của Nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động ở tất cả các cơ sở thuộc các thành phần kinh tế. Cần lưu ý các lĩnh vực : xây dựng; lắp đặt, sửa chữa và sử dụng điện; khai thác khoáng sản và khai thác đá; sử dụng các thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động. Xử lý nghiêm minh, kịp thời đối với các hành vi vi phạm luật pháp lao động. Phổ biến, hướng dẫn, đôn đốc các doanh nghiệp thực hiện việc điều tra, thống kê, báo cáo tai nạn lao động định kỳ, đúng thời hạn theo quy định tại Thông tư liên tịch số 14/2005/TTLT-BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN ngày 08/3/2005 của Liên tịch Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội – Bộ Y tế – Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Cần thực hiện đúng các quy định về báo cáo nhanh tai nạn lao động nghiêm trọng.

3- Quản lý chặt chẽ về an toàn lao động đối với các máy, thiết bị, vật tư và các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động theo quy định tại Thông tư số 23/2003/TT-LĐTBXH ngày 03/11/1993 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội.

4- Chấn chỉnh công tác thống kê, báo cáo tai nạn lao động toàn quốc, việc thanh tra, kiểm tra chuyên đề về công tác báo cáo cũng như các chế tài đối với cơ sở không chấp hành nghiêm túc chế độ báo cáo về TNLĐ.

5- Phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền để tiến hành điều tra kịp thời, chính xác các vụ tai nạn lao động chết người trong các thành phần kinh tế, chú ý các doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy trình sản xuất phức tạp, độc hại, ảnh hưởng môi trường nhưng thiếu ý thức phòng ngừa TNLĐ.

6- Đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiểm tra để yêu cầu các cơ quan xét xử khẩn trương xét xử các vụ tại nạn lao động nghiêm trọng và thông báo kết quả xử lí cho ngành Lao động, Thương binh và Xã hội theo dõi và có biện pháp tuyên truyền nâng cao trách nhiệm đối với các đơn vị, cơ sở và phòng ngừa tai nạn lao động./.

KT.BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG

(đã ký)

BÙI HỒNG LĨNH

Số lượt đọc:  194  -  Cập nhật lần cuối:  29/06/2006 08:30:37 AM
Bài mới:  
Bài đã đăng:
Hình ảnh ATVSLĐ

Tài liệu - Ấn phẩm

Thông tin bổ trợ

Tư vấn - Giải đáp về ATVSLĐ