Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thông báo đến các ngành, các địa phương tình hình tai nạn lao động trong năm 2005 và một số giải pháp chủ yếu nhằm chủ động ngăn ngừa sự cố và tai nạn lao động trong năm 2006 như sau :
A. TÌNH HÌNH CHUNG
I. Số vụ tai nạn lao động (TNLĐ).
Cho đến ngày 13/2/2006, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội nhận được báo cáo tai nạn lao động năm 2005 của 60/64 Sở Lao động - Thương binh và Xã hội. Theo số liệu thống kê của 60 tỉnh, thành phố, tình hình tai nạn lao động trong năm 2005 như sau:
- Tổng số vụ 4.050, trong đó có 443 vụ tai nạn lao động chết người, 59 vụ có 2 người bị nạn trở lên.
- Tổng số người bị nạn: 4.164, trong đó có 473 người chết, 1.026 người bị thương nặng.
II. Tình hình TNLĐ ở các địa phương.
1. Mười địa phương xảy ra nhiều tai nạn lao động chết người trong năm 2005 là:
- Thành phố Hồ Chí Minh: 543 vụ (chiếm 13,41% so với tổng số vụ toàn quốc) làm 572 người bị nạn (chiếm 13,74% so với tổng số nạn nhân toàn quốc), trong đó có 64 vụ làm 66 người chết, 10 người bị thương nặng;
- Quảng Ninh: 256 vụ (chiếm 6,32% so với tổng số vụ toàn quốc) làm 265 người bị nạn (chiếm 6,36% so với tổng số nạn nhân toàn quốc), trong đó có 34 vụ làm 42 người chết, 132 người bị thương nặng; đặc biệt có 1 vụ làm chết 4 người.
- Đồng Nai: 1.207 vụ (chiếm 29,80% so với tổng số vụ toàn quốc) làm 1.219 người bị nạn (chiếm 29,27% so với tổng số nạn nhân toàn quốc), trong đó có 29 vụ làm 29 người chết, 160 người bị thương nặng ; đặc biệt có 9 vụ có từ 2 người bị nạn trở lên;
- Hà Nội: 98 vụ làm 105 người bị nạn, trong đó có 23 vụ làm 24 người chết, 40 người bị thương nặng;
- Hà Tây: 48 vụ (chiếm 1,19% so với tổng số vụ toàn quốc) làm 51 người bị nạn (chiếm 1,22% so với tổng số nạn nhân toàn quốc), trong đó có 22 vụ làm 23 người chết, 29 người bị thương nặng;
- Bình Dương: 226 vụ(chiếm 5,58% so với tổng số vụ toàn quốc) làm 226 người bị nạn (chiếm 5,43% so với tổng số nạn nhân toàn quốc), trong đó có 22 vụ làm 22 người chết;
- Thanh Hóa: 54 vụ làm 55 người bị nạn trong đó có 16 vụ làm 16 người chết, 39 người bị thương nặng;
- Bình Định: 63 vụ làm 63 người bị nạn, trong đó có 15 vụ làm 15 người chết, 48 người bị thương nặng.
- Hải Phòng: 284 vụ làm 288 người bị nạn, trong đó có 14 vụ làm 15 người chết, 64 người bị thương nặng.
- Đà Nẵng: 55 vụ làm 65 người bị nạn, trong đó có 14 vụ làm 14 người chết, 17 người bị thương nặng;
2- Một số địa phương có số vụ tai nạn lao động chết người tăng cao so với năm 2004 là Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Tây, Đồng Nai, Đà Nẵng, Bình Dương, Hoà Bình, Bình Định…
B. PHÂN TÍCH CÁC VỤ TAI NẠN LAO ĐỘNG.
Tình hình khai báo, điều tra các vụ tai nạn lao động hiện nay rất chậm so với quy định. Theo báo cáo của 60 Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thì năm 2005 toàn quốc xảy ra 443 vụ tai nạn lao động chết người làm 473 người chết; nhưng đến 13 tháng 2 năm 2006, Bộ mới nhận được 253 biên bản điều tra các vụ tai nạn lao động nghiêm trọng, chết người, trong đó có 273 người chết và 30 người bị thương nặng. Phân tích từ các biên bản điều tra của 253 vụ tai nạn lao động chết người, Bộ có một số đánh giá như sau:
I. Những Bộ, Ngành xảy ra nhiều tai nạn lao động chết người.
- Các doanh nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp chiếm 18,58% tổng số vụ và 20,15% tổng số người chết.
- Các doanh nghiệp thuộc Bộ Xây dựng chiếm 13,04% tổng số vụ và 12,45% tổng số người chết.
- Các doanh nghiệp thuộc Bộ Giao thông vận tải chiếm 4,74% tổng số vụ và 4,40% tổng số người chết.
- Các doanh nghiệp thuộc các địa phương quản lí (bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước và tư nhân) chiếm 50,99% tổng số vụ và 50,92% tổng số người chết.
II. Các Tổng Công ty xảy ra nhiều tai nạn lao động chết người.
- Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam xảy ra 25 vụ, chiếm 9,98% tổng số vụ và 12,09% tổng số người chết.
- Tổng công ty Sông đà xảy ra 9 vụ chiếm 3,56% tổng số vụ và 3,66% tổng số người chết.
- Tổng công ty Điện lực Việt Nam xảy ra 6 vụ, chiếm 2,37% tổng số vụ và 2,20 % tổng số người chết.
- Tổng công ty xây dựng Thăng long (thuộc Bộ Giao thông vận tải), Tổng công ty Lắp máy Việt Nam (thuộc Bộ xây dựng) có 5 vụ chiếm 1,98% số vụ và 1,83% số người chết,
- Ngoài ra còn 28 Tổng công ty khác, mỗi Tổng có từ 1 đến 4 vụ tai nạn lao động chết người.
III. Những lĩnh vực sản xuất xảy ra nhiều tai nạn lao động chết người.
- Lĩnh vực xây lắp các công trình dân dụng, công nghiệp và công trình giao thông, chiếm tỷ lệ cao nhất: 37,55% tổng số vụ và 36,26% tổng số người chết.
- Lĩnh vực khai thác than chiếm 10,28% tổng số vụ và 14,29% tổng số người chết;
- Lĩnh vực cơ khí chế tạo chiếm 9,09% tổng số vụ và 8,42 tổng số người chết;
- Lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng chiếm 8,30% tổng số vụ và 8,06% tổng số người chết.
IV. Các loại yếu tố, thiết bị gây nhiều tai nạn lao động chết người.
- Liên quan đến mặt bằng sản xuất 33 vụ chiếm 13,04% tổng số vụ và 15,05% tổng số người chết
- Liên quan đến giàn giáo, sàn thao tác có 24 vụ chiếm 9,49% tổng số vụ và 8,79% tổng số người chết,
- Liên quan đến đường dây tải điện các loại có 33 vụ chiếm 13,04 tổng số vụ và 12,46 tổng số người chết,
- Liên quan đến thiết bị nâng có 15 vụ chiếm 5,93% tổng số vụ và 5,86% tổng số người chết.
- Liên quan đến phương tiện vận tải có 16 vụ do ô tô chiếm 6,32% và 12 vụ do xe máy chiếm 4.74%.
V. Các loại tai nạn lao động gây chết người nhiều nhất:
- Điện giật có 46 vụ làm chế 46 người;
- Rơi ngã có 54 vụ làm chết 57 ngươì;
- Vật đổ, đè có 21 vụ làm chết 24 người;
- Vật văng bắn có 10 vụ làm chết 10 người.
VI. Các nguyên nhân gây nhiều tai nạn lao động chế người nhất:
- Người bị nạn vi phạm quy trình quy phạm an toàn lao động: 69 vụ làm 72 người chết;
- Người sử dụng lao động không xây dựng quy trình, biện pháp an toàn lao động có 52 vụ làm 58 người chết;
- Thiết bị không đảm bảo an toàn lao động có 34 vụ làm 36 người chết;
- Chưa huấn luyện an toàn lao động có 24 vụ làm 24 người chết.
C. ĐÁNH GIÁ CHUNG.
Qua phân tích tình hình báo cáo tai nạn lao động năm 2005 cho thấy:
1- So với năm 2004: Năm 2004 tổng hợp được số liệu của cả 64 địa phương và đã xảy ra 6.026 vụ tai nạn lao động làm 575 người chết. Năm 2005, đến ngày 13/2/2006 chỉ có 60 địa phương báo cáo nên số liệu tai nạn lao động năm 2005 ít hơn năm 2004 (có 4.050 vụ tai nạn lao động và 473 người chết).
2- Bốn địa phương không báo cáo tai nạn lao động năm 2005 là Đăk Lăk, Trà Vinh, Sóc Trăng, và Cà Mau.
3. Tình hình điều tra tai nạn lao động: Nhìn chung các vụ tai nạn lao động đã được điều tra đúng quy định tại Thông tư liên tịch số 14/2005/TTLT-BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN ngày 08/3/2005 của Liên tịch Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội – Bộ Y tế – Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Tuy nhiên nhiều địa phương còn chậm gửi biên bản điều tra về Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội. So với năm 2004, một số địa phương đã tiến hành điều tra TNLĐ khẩn trương và kịp thời như: Quảng Ninh, Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Hải Phòng.
4. Chất lượng báo cáo tai nạn lao động năm 2005:
- Nhiều địa phương đã thực hiện tốt việc báo cáo tình hình tai nạn lao động theo mẫu mới quy định tại Thông tư liên tịch số 14/2005/TTLT-BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN ngày 08/3/2005 của Liên tịch Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội – Bộ Y tế – Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam như Thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố Hà Nội…Tuy nhiên vẫn nhiều địa phương báo cáo không đúng mẫu, báo cáo số liệu không khớp giữa các bảng và các cột mục hoặc chỉ báo cáo tổng số mà không phân tích theo các yếu tố theo biểu mẫu quy định, chính vì vậy việc tổng hợp đánh giá tình hình tai nạn lao động toàn quốc năm 2005 gặp nhiều khó khăn. Cụ thể là:
- Một số địa phương vẫn báo cáo theo mẫu cũ tại Thông tư số 23/LĐTBXH-TT ngày 18/11/1996 của Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội như Cao Bằng, Bắc Kạn, Bình Phước, Bình Dương...
- Các địa phương chưa thống kê, báo cáo đầy đủ số doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn và số doanh nghiệp có báo cáo như Bình Dương, Bình Định, Hà Tây, Hà Tĩnh, Bắc Giang…
- Một số địa phương vẫn chưa phân tích được tình hình tai nạn lao động theo yếu tố gây chấn thương và nguyên nhân mà chỉ thống kê được tổng số vụ tai nạn lao động chết người;
- Một số địa phương báo cáo số liệu thiếu chính xác giữa các chỉ tiêu trong báo cáo như: Ninh Bình, An Giang; Có địa phương báo cáo không có tai nạn lao động như Vĩnh Long, Hậu Giang.
5. Tình trạng Doanh nghiệp không báo cáo tai nạn lao động theo quy định ngày càng nhiều. Hà Nội có 97 cơ sở có báo cáo chiếm 0,28% trên tổng số 35.150 cơ sở ; Đà Nẵng có 28 cơ sở có báo cáo chiếm 0,10% trên tổng số 28.733 cơ sở; Quảng Ninh có tỷ lệ doanh nghiệp báo cáo tai nạn lao động cao nhất: có 130 cơ sở có báo cáo chiếm 17,38% trên tổng số 748 cơ sở; TP Hồ TP Hồ Chí Minh có 353 cơ sở có báo cáo. Toàn quốc có 3.400 cơ sở có báo cáo trên tổng số hơn 160.000 cơ sở chiếm khoảng 2,1%.
6. Thiệt hại về vật chất
Theo số liệu báo cáo chưa đầy đủ của các địa phương, thiệt hại về vật chất do tai nạn lao động xảy ra trong năm 2005 (chi phí tiền thuốc men, mai táng, tiền bồi thường cho gia đình người chết và những người bị thương, thiệt hại tài sản...) là 47,107 tỷ đồng, trong đó thiệt hại về tài sản là 14,238 tỷ. Tổng số ngày nghỉ do TNLĐ lên đến 49.571 ngày.
D. MỘT SỐ VỤ TAI NẠN LAO ĐỘNG CHẾT NGƯỜI
NGHIÊM TRỌNG NĂM 2005
1. Vụ tai nạn lao động sập lò khai thác than ngày 28/01/2005 tại Xí nghiệp xây lắp và sản xuất than Khe chàm II - Công ty Than Hạ Long làm chết 4 người. Nguyên nhân chính là công tác kiểm tra, giám sát thực hiện các quy định về an toàn lao động chưa tốt, trình độ chuyên môn của công nhân hạn chế. Tổ chức sản xuất chưa chặt chẽ, cán bộ chỉ huy sản xuất thiếu kiên quyết đã gây hậu quả nghiêm trọng.
2. Vụ tai nạn lao động nổ khí mêtan ngày 25 tháng 4 năm 2005, tại Mỏ than Đồi Hoa của Công ty Cổ phần Khoáng sản Hoà Bình (huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hoà Bình) làm chết tại chỗ 6 người. Nguyên nhân do điều kiện làm việc không an toàn, không đo môi trường lao động và vi phạm quy định an toàn lao động trong khai thác mỏ.
3. Vụ tai nạn lao động đứt cáp máy vận thăng trong xây dựng làm chết 2 ngưòi tại công trường xây dựng nhà chung cư B3C nam Trung Yên, Hà Nội do Công ty Đầu tư và phát triển nhà số 6 Hà Nội thi công. Nguyên nhân do thiết bị không đảm bảo an toàn, không đăng kí, kiểm định thiết bị sau lắp đặt, không huấn luyện an toàn lao động cho công nhân, công nhân vận hành không có chứng chỉ đào tạo.
4. Vụ tai nạn lao động sập mái tôn nhà xưởng đang lợp làm chết 2 công nhân của Công ty cổ phần xây dựng VINASHIN thuộc Tổng công ty Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam do vi phạm quy trình, biện pháp an toàn và công tác kiểm tra thiếu chặt chẽ.
E. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU CẦN THỰC HIỆN NĂM 2006
Căn cứ vào tình hình và nguyên nhân xảy ra tai nạn lao động trong năm 2005, để chủ động phòng ngừa tai nạn lao động trong thời gian tới, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đề nghị các Bộ, ngành, địa phương và các doanh nghiệp thực hiện tốt các giải pháp chủ yếu sau đây:
1. Áp dụng phương thức thanh tra, kiểm tra pháp luật lao động sử dụng phiếu tự kiểm tra pháp luật lao động với doanh nghiệp để nắm bắt đầy đủ tình hình các doanh nghiệp có nguy cơ cao về tai nạn lao động.
2. Tăng cường thanh tra chuyên đề về an toàn lao động, vệ sinh lao động tại các doanh nghiệp có nguy cơ cao về tai nạn lao động qua việc tổng hợp phân tích phiếu tự kiểm tra pháp luật lao động.
3. Chỉ đạo các doanh nghiệp chấn chỉnh công tác an toàn lao động:
- Thực hiện đầy đủ các quy định của Nhà nước về an toàn vệ sinh lao động và các chế độ bảo hộ lao động. Tăng cường huấn luyện về an toàn lao động đối với người sử dụng lao động và người lao động theo quy định tại Thông tư số 37/2005/TT-LĐTBXH ngày 29.12.2005. Đặc biệt chú ý đối với những người lao động làm các công việc nặng nhọc, nguy hiểm, độc hại hoặc làm các công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, vệ sinh lao động và những người lao động hành nghề tự do.
- Tăng cường tự kiểm tra việc thực hiện các quy định của Nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động ở tất cả các cơ sở thuộc các thành phần kinh tế. Cần lưu ý các lĩnh vực: xây dựng; lắp đặt, sửa chữa và sử dụng điện; khai thác khoáng sản và khai thác đá; sử dụng các thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động. Xử lý nghiêm minh, kịp thời đối với các hành vi vi phạm pháp luật lao động. Phổ biến, hướng dẫn, đôn đốc các doanh nghiệp thực hiện việc điều tra, thống kê, báo cáo tai nạn lao động định kỳ, đúng thời hạn theo quy định tại Thông tư liên tịch số 14/2005/TTLT-BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN ngày 08/3/2005 của Liên tịch Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội – Bộ Y tế – Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Cần thực hiện đúng các quy định về báo cáo nhanh tai nạn lao động nghiêm trọng.
- Quản lý chặt chẽ về an toàn lao động đối với các máy, thiết bị, vật tư và các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động theo quy định tại Thông tư số 23/2003/TT-LĐTBXH của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội.
- Chấn chỉnh công tác thống kê, báo cáo tai nạn lao động toàn quốc, tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử phạt nghiêm đối với cơ sở không chấp hành nghiêm túc chế độ báo cáo về TNLĐ.
4. Phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền để tiến hành điều tra kịp thời, xác định chính xác nguyên nhân của các vụ tai nạn lao động chết người.
5. Xử lýý nghiêm các tập thể, cá nhân có lỗi để xảy ra tai nạn lao động nghiêm trọng. Kiên quyết đưa ra truy tố các đối tượng vi phạm nghiêm trọng pháp luật lao động, vô trách nhiệm với công tác an toàn lao động.
KT.BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
(đã ký)
Bùi Hồng Lĩnh Số lượt đọc:
426
-
Cập nhật lần cuối:
29/06/2006 08:28:25 AM Tình hình môi trường lao động ở vùng mỏ Quảng Ninh 1995-1998 18/08/2006 01:18' PM Nghiên cứu môi trường lao động một số ngành nghề đại diện cho Quảng Ninh, qua đo các yếu tố lý, hoá: vi khí hậu, hơi khí độc, tiếng ồn, bụi... theo thường qui của Viện YHLĐ và VSMT và khám sức khoẻ định kỳ cho công nhân theo qui định của Bộ Y tế nhằm đánh giá thực trạng môi trường lao động và sức khoẻ công nhân.
Đánh giá thực trạng môi trường lao động về bệnh nghề nghiệp trong ngành đường sắt 18/08/2006 01:14' PM Nghiên cứu trong 6 năm ( 1992-1997) đã khảo sát 4817 mẫu để đánh giá môi trường lao động: có 1527 mẫu không đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép (TCVSCP) chiếm 3 l,7%, trong đó ô nhiễm chủ yếu do bụi, ồn, hơi khí độc, xăng dầu, rung chuyển.
Đánh giá bước đầu ảnh hưởng của tiếng ồn và rung động đến thính lực và xương khớp của công nhân mỏ than Mạo Khê và Hà Lầm 18/08/2006 11:34' AM Nghiên cứu được tiến hành trên 300 đối tượng trong đó có 175 công nhân khoan đá và than bằng máy khí nén và khoan điện phải tiếp xúc với tiếng ồn cao và rung cục bộ lớn, số còn lại là sàng tuyển than và lái xe. Bằng phương pháp dùng phiếu câu hỏi, điều tra hồi cứu hồ sơ sức khoẻ, đo thính lực sơ bộ, làm các kiểm tra nhiệt độ của ngón tay, cảm nhận rung, chụp phim X quang để đánh giá tác động của môi trường đến sức khoẻ của công nhân.
Một số nhận xét về bệnh lý trên những bệnh nhân được giám định bệnh phổi nghề nghiệp trại Hội đồng giám định y khoa tỉnh Thái Nguyên năm 1997-1998 18/08/2006 11:29' AM Hơn 50% trường hợp được giám định có rối loạn chức năng hô hấp 199/386). Đặc biệt có tới gần 10% số bệnh nhân có suy giảm chức năng hô hấp độ 3. Về tổn thương X-quang, đa số là thể 1p (tổn thương giai đoạn đầu), trường hợp bệnh lý thường gặp ở các công nhân có bậc nghề 4 và 5. Tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh bụi phổi và được giám định tại các cơ sở luyện cán thép khá cao so với các cơ sở sản xuất tại Thái Nguyên.
Tình hình ngộ độc thuốc diệt cỏ Paraquat (Gramoxone) ở một số tỉnh phía Nam - Biện pháp phòng ngừa và điều trị 18/08/2006 11:24' AM Số ngộ độc Paraquat ngày càng ra tăng. Trong 42 ca được gửi đến viện Chợ Rẫy 3 năm qua thì 95 % là do tự tử. Tỷ lệ tử vong 85%. Tỉnh gửi bệnh nhân đến nhiều nhất là Đồng Nai (27 ca, chiếm 62,8%), rồi tới Bà Rịa - Vũng tàu, Bình Thuận, Tiền Giang, Lâm Đồng. Về tổn thương Paraquat gây nên: Loét miệng qua đường uống (100%); suy hô hấp (>80%); suy gan (>60%); suy thận (>50%); tràn khí trung thất, dưới da, màng phổi (7%); truỵ mạch (4,5%), thủng thực quản (4,5%).
Ảnh hưởng tiếng ồn đến thính lực bộ đội sửa chữa máy bay 18/08/2006 11:20' AM Nghiên cứu ảnh hưởng của tiếng ồn máy bay AN-26 đến thính lực bộ đội sửa chữa máy bay tại nhà máy A-41 (Sân bay Tân Sơn Nhất - Thành phố Hồ Chí Minh) cho thấy: Tiếng ồn đo ở khoảng cách 10 m của động cơ máy bay khi nổ máy với tốc độ 14850 vòng/phút là 122 dBA, khi tăng lên 16000 vòng/phút, tiếng ồn đạt tới 130 dBA (ngưỡng đau tai). Kết quả kiểm tra thính lực 69 công nhân làm việc trong điều kiện tiếng ồn lớn tại 3 phân xưởng (Sửa chữa máy bay, Cơ khí và Trạm thử nghiệm động cơ) cho thấy: 8/69 công nhân bị tổn thương thính lực.
Một số nhận xét về nhiễm chì và Asen trong công nhân luyện kim màu 1997-1998 18/08/2006 11:15' AM Xét nghiệm về Asen cho 123 công nhân làm việc trong dây chuyền tinh chế kim loại màu cho thấy tỷ lệ nhiễm Asen tương đối cao có 54 trường hợp Asen niệu >= 0,1 mg/l. Trong số này đã có trường hợp nhiễm độc nặng, suy thận, urê huyết tăng cao phải điều trị tại bệnh viện. Do đó, cần có những biện pháp cụ thể và xây dựng được kế hoạch đảm bảo phòng và chống nhiễm độc cho công nhân trong diều kiện môi trường đang bị ô nhiễm hiện tại chưa thể khắc phục.
|