|
|
|
|
|
|
|
Ngày Thế giới về ATVSLĐ - 28/4 |
   |
|
|
|
|
|
Các cơ quan ATVSLĐ quốc tế |
   |
|
|
|
|
|
Giải thưởng Doanh nghiệp tiêu biểu về ATVSLĐ |
   |
|
|
|
|
|
| Trang chủ
>
Tiếng Việt
>
Nghiên cứu - Thống kê | Đánh giá thực trạng môi trường lao động về bệnh nghề nghiệp trong ngành đường sắt | | Nhóm nghiên cứu: Phạm Văn Hùng và CTV Trung tâm Y tế dự phòng Đường sắt
Phương pháp nghiên cứu: Dùng phương pháp mô tả dịch tễ học nghiên cứu trên những công nhân phải làm việc trong môi trường độc hại thuộc các xí nghiệp của ngành đường sắt, nhằm đánh giá khái quát thực trạng môi trường lao động và bệnh nghề nghiệp. Bước đầu đề xuất giải pháp và xác định hướng nghiên cứu trong thời gian tới để từng bước cải thiện môi trường lao động và sức khoẻ công nhân ngành đường sắt.
Kết quả: Nghiên cứu trong 6 năm ( 1992-1997) đã khảo sát 4817 mẫu để đánh giá môi trường lao động: có 1527 mẫu không đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép (TCVSCP) chiếm 3 l,7%, trong đó ô nhiễm chủ yếu do bụi, ồn, hơi khí độc, xăng dầu, rung chuyển. Bệnh nghề nghiệp phổ biến là bệnh bụi phổi silic, điếc, rung chuyển ( 12/63 người được khám). Bệnh nốt dầu rất phổ biến ở hầu hết các xí nghiệp (178/387 người bị bệnh từ nhẹ đến nặng).
Kết luận: 3 l ,7% môi trường lao động trong ngành đường sắt bị ô nhiễm đã gây mắc các bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm ( 19,05%), đó là chưa kể đến những bệnh nghề nghiệp chưa được bảo hiểm. Vậy cần quan tâm hơn nữa đến việc cải tạo và quản lý môi trường lao động, có những biện pháp khắc phục hữu hiệu để bảo vệ con người, đẩy mạnh công tác phòng chống bệnh nghề nghiệp. Trước mắt cần khuyến khích đầu tư kinh phí khám phát hiện, điều trị sớm những bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm. Số lượt đọc:
1309
-
Cập nhật lần cuối:
04/05/2007 02:08:39 PM Tình hình môi trường lao động ở vùng mỏ Quảng Ninh 1995-1998 18/08/2006 01:18' PM Nghiên cứu môi trường lao động một số ngành nghề đại diện cho Quảng Ninh, qua đo các yếu tố lý, hoá: vi khí hậu, hơi khí độc, tiếng ồn, bụi... theo thường qui của Viện YHLĐ và VSMT và khám sức khoẻ định kỳ cho công nhân theo qui định của Bộ Y tế nhằm đánh giá thực trạng môi trường lao động và sức khoẻ công nhân.
Thông báo Tình hình tai nạn lao động năm 2003 24/09/2006 08:43' AM Theo số liệu thống kê, báo cáo của 52 tỉnh, thành phố. Trong năm 2003 đã xảy ra 3.896 vụ tai nạn lao động làm 4.089 người bị nạn, trong đó có 469 vụ TNLÐ chết người làm 513 người bị chết. Số vụ TNLÐ do phương tiện vận tải gây ra là 770 vụ làm 799 người bị nạn, trong đó có 144 vụ TNLÐ chết người làm 149 người bị chết, chiếm 19,7% tổng số vụ TNLÐ trong cả nước; Trong số 469 vụ TNLÐ chết người có 55 vụ có từ 2 người bị nạn trở lên.
Thông báo Tình hình tai nạn lao động năm 2004 12/10/2006 09:50' AM Theo số liệu thống kê, báo cáo của 64 tỉnh, thành phố, trong năm 2004 (tính đến ngày 31/12) đã xảy ra 6026 vụ tai nạn lao động làm 6186 người bị nạn, trong đó có 85 vụ có từ 2 người bị nạn trở lên; 561 vụ TNLĐ chết người làm 575 người bị chết. Thông báo tình hình tai nạn lao động năm 2002 20/08/2006 10:10' AM Theo số liệu thống kê, báo cáo của các địa phương, trong năm 2002 đã xảy ra 4.298 vụ tai nạn lao động (449 vụ có người chết) làm 4.521 người bị nạn, trong đó có 514 người bị chết và 1.206 người bị thương nặng. Trong 4.298 vụ TNLĐ có 707 vụ tai nạn do phương tiện vận tải (TNGT) gây ra (146 vụ có người chết) làm 736 người bị nạn, trong đó có 154 người bị chết và 299 người bị thương nặng, số vụ TNGT được công nhận là TNLĐ chiếm 16,4% tổng số vụ TNLĐ trong cả nước; Trong số 449 vụ TNLĐ chết người có 95 vụ có từ 2 người bị nạn trở lên. Thông báo tình hình tai nạn lao động năm 2001 20/08/2006 09:57' AM Theo số liệu thống kê, báo cáo của các địa phương, trong năm 2001 đã xảy ra 3.601 vụ tai nạn lao động (362 vụ có người chết) làm 3.748 người bị nạn, trong đó có 395 người bị chết và 1162 người bị thương nặng. Trong 3.601 vụ TNLĐ có 551 vụ tai nạn do phương tiện vận tải gây ra làm 613 người bị nạn. Số vụ TNGT được công nhận là TNLĐ chết người chiếm 29,8% tổng số vụ TNLĐ chết người trong cả nước (có 111 người chết và 22 người bị thương nặng); Trong số 362 vụ TNLĐ chết người có 48 vụ có từ 2 người bị nạn trở lên làm 77 người chết và 95 người bị thương.
Thông báo tình hình tai nạn lao động năm 2000 19/08/2006 10:02' AM Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội thông báo đến các ngành, các địa phương tình hình tai nạn lao động trong năm 2000 và một số biện pháp chính nhằm chủ động ngăn ngừa xảy ra sự cố và tai nạn lao động trong năm 2001 như sau :
Bài đã đăng: Đánh giá bước đầu ảnh hưởng của tiếng ồn và rung động đến thính lực và xương khớp của công nhân mỏ than Mạo Khê và Hà Lầm 18/08/2006 11:34' AM Nghiên cứu được tiến hành trên 300 đối tượng trong đó có 175 công nhân khoan đá và than bằng máy khí nén và khoan điện phải tiếp xúc với tiếng ồn cao và rung cục bộ lớn, số còn lại là sàng tuyển than và lái xe. Bằng phương pháp dùng phiếu câu hỏi, điều tra hồi cứu hồ sơ sức khoẻ, đo thính lực sơ bộ, làm các kiểm tra nhiệt độ của ngón tay, cảm nhận rung, chụp phim X quang để đánh giá tác động của môi trường đến sức khoẻ của công nhân.
Một số nhận xét về bệnh lý trên những bệnh nhân được giám định bệnh phổi nghề nghiệp trại Hội đồng giám định y khoa tỉnh Thái Nguyên năm 1997-1998 18/08/2006 11:29' AM Hơn 50% trường hợp được giám định có rối loạn chức năng hô hấp 199/386). Đặc biệt có tới gần 10% số bệnh nhân có suy giảm chức năng hô hấp độ 3. Về tổn thương X-quang, đa số là thể 1p (tổn thương giai đoạn đầu), trường hợp bệnh lý thường gặp ở các công nhân có bậc nghề 4 và 5. Tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh bụi phổi và được giám định tại các cơ sở luyện cán thép khá cao so với các cơ sở sản xuất tại Thái Nguyên.
Tình hình ngộ độc thuốc diệt cỏ Paraquat (Gramoxone) ở một số tỉnh phía Nam - Biện pháp phòng ngừa và điều trị 18/08/2006 11:24' AM Số ngộ độc Paraquat ngày càng ra tăng. Trong 42 ca được gửi đến viện Chợ Rẫy 3 năm qua thì 95 % là do tự tử. Tỷ lệ tử vong 85%. Tỉnh gửi bệnh nhân đến nhiều nhất là Đồng Nai (27 ca, chiếm 62,8%), rồi tới Bà Rịa - Vũng tàu, Bình Thuận, Tiền Giang, Lâm Đồng. Về tổn thương Paraquat gây nên: Loét miệng qua đường uống (100%); suy hô hấp (>80%); suy gan (>60%); suy thận (>50%); tràn khí trung thất, dưới da, màng phổi (7%); truỵ mạch (4,5%), thủng thực quản (4,5%).
Ảnh hưởng tiếng ồn đến thính lực bộ đội sửa chữa máy bay 18/08/2006 11:20' AM Nghiên cứu ảnh hưởng của tiếng ồn máy bay AN-26 đến thính lực bộ đội sửa chữa máy bay tại nhà máy A-41 (Sân bay Tân Sơn Nhất - Thành phố Hồ Chí Minh) cho thấy: Tiếng ồn đo ở khoảng cách 10 m của động cơ máy bay khi nổ máy với tốc độ 14850 vòng/phút là 122 dBA, khi tăng lên 16000 vòng/phút, tiếng ồn đạt tới 130 dBA (ngưỡng đau tai). Kết quả kiểm tra thính lực 69 công nhân làm việc trong điều kiện tiếng ồn lớn tại 3 phân xưởng (Sửa chữa máy bay, Cơ khí và Trạm thử nghiệm động cơ) cho thấy: 8/69 công nhân bị tổn thương thính lực.
Một số nhận xét về nhiễm chì và Asen trong công nhân luyện kim màu 1997-1998 18/08/2006 11:15' AM Xét nghiệm về Asen cho 123 công nhân làm việc trong dây chuyền tinh chế kim loại màu cho thấy tỷ lệ nhiễm Asen tương đối cao có 54 trường hợp Asen niệu >= 0,1 mg/l. Trong số này đã có trường hợp nhiễm độc nặng, suy thận, urê huyết tăng cao phải điều trị tại bệnh viện. Do đó, cần có những biện pháp cụ thể và xây dựng được kế hoạch đảm bảo phòng và chống nhiễm độc cho công nhân trong diều kiện môi trường đang bị ô nhiễm hiện tại chưa thể khắc phục.
Kết quả điều tra ngộ độc do hóa chất bảo vệ thực vật tại tỉnh Thái Bình trong hai năm 1996 và 1997 18/08/2006 11:01' AM Ngộ độc do HCBVTV gặp ở tất cả mọi đối tượng, nhưng tỷ lệ nữ mắc cao hơn nam và nguyên nhân chủ yếu là do tự tử chiếm 67,52% và do ăn uống chiếm 3 l,98% (chủ yếu là ăn phải thức ăn có lẫn hoá chất diệt chuột). Ngộ độc HCBVTV do tự tử gặp chủ yếu ở người lớn (trên l 8 tuổi) chiếm 89,2% và ngộ độc HCBVTV do ăn uống gặp chủ yếu ở nhóm tuổi (0-5 và ở nhóm tuổi này ngộ độc do ăn phải thức ăn có lẫn hoá chất diệt chuột chiếm tỷ lệ rất cao chiếm 69,54%, nhiều gấp 20 lần so với ngộ độc do ăn thức ăn có lẫn hoá chất trừ sâu.
Nghiên cứu chế thử quần áo chống lạnh dùng cho công nhân làm việc trong các nhà lạnh 18/08/2006 10:57' AM Quần áo chống lạnh là phương tiện bảo vệ cá nhân có công dụng đặc biệt, được dùng với mục đích chống lạnh, ngăn cản sự mất nhiệt của cơ thể, do sự chênh lệch quá cao giữa thân nhiệt với nhiệt độ môi trường. Do vậy chúng đòi hỏi vật liệu chẳng những có dộ dẫn nhiệt thấp mà còn có độ hút nước, thấm khí và hút ẩm cũng phải thấp (ngược hẳn với yêu cầu của vật liệu làm quần áo chống nóng).
|
|
|
|
|
Tư vấn - Giải đáp về ATVSLĐ |
   |
|
|
|
|
|