|
2. Khuyến nghị áp dụng và điều kiện thực hiện Cần xác định các thông số chỉ thị về nước sạch, nước thải môi trường chung ở tát cả các cơ sở. Đối với các cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng đối tượng ở gần các khu công nghiệp, làng nghề hay cơ sở công nghiệp sản xuất gây bụi, ồn và đặc biệt trong sản xuất có sử dụng hoá chất thải khí ra môi trường xung quanh cần xác định mẫu không khí. Đối với các cơ sở nuôi dưỡng điều dưỡng trẻ mồ côi, có thể bố trí hoà nhập cùng khu đông dân cư nhằm giúp các cháu lớn lên phát triển hoà nhập cùng cộng đồng. Những cơ sở này như những căn hộ dân không gây ô nhiễm môi trường nhiều. Đồng thời những cơ sở này cần có môi trường hoà nhập cùng môi trường xã hội không gây cản trở, trở ngại môi trường xã hội. Nhưng để đảm bảo môi trường tốt cho sức khoẻ của đối tượng cần kiểm soát môi trường nước và khí để đánh giá chung. Các cơ sở chăm sóc điều dưỡng người có công, thương binh, bệnh binh nặng, người già cô đơn cần có môi trường không khí trong lành, sạch, yên tĩnh để tĩnh dưỡng bệnh, tĩnh dưỡng tuổi già càng cần nơi có không khí trong lành, nước dùng sạch cần kiểm tra toàn bộ các chỉ tiêu chỉ thị môi trường chung và môi trường lao động nêu trên. Các cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng người tâm thần, người lang thang, đối tượng mới tập trung thu gom ban đầu cần ở xa khu dân cư, đặc biệt là trường học của các cháu trong khu vực dân cư. Vì ở các đối tượng này có nhiều nguy cơ chứa đựng nguồn dịch lây nhiễm về môi trường vi sinh, vi khuẩn có hại. Các cơ sở này cần ở xa khu vực dân cư. Nhưng lại càng cần có sự giám sát, kiểm soát chất thải, mức độ thải và tác động ảnh hưởng ô nhiễm đến môi trường chung đồng thời cần xác định điều kiện môi trường lao động cho cán bộ, nhân viên của cơ sở. Các cơ sở chăm sóc điều dưỡng người có công, thương binh, bệnh binh nặng, người già cô đơn, nuôi dưỡng, điều dưỡng người tâm thần, người lang thang, đối tượng mới tập trung thu gom ban đầu, như đã phân tích ở trên cần đầu tư công nghệ xử lý nước sạch, xử lý nước thải. Tất cả các cơ sở xã hội cần có sự kiểm tra kiểm soát chất lượng nước sạch theo định kỳ hàng năm. Ba năm định kỳ kiểm tra lượng thải lỏng, rắn và mức độ ô nhiễm. Cần phát động phong trào môi trường xanh, sạch, đẹp bằng kế hoạch trồng cây xanh, chăm sóc cây xanh do đối tượng thực hiện có sự hỗ trợ của địa phương và từ ngân sách nhà nước. Trong thời gian tới Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cần có dự án thực hiện đo đạc các chỉ tiêu, yếu tố chỉ thị môi trường chung là: nước sạch, nước thải, không khí. Xác định các thông số chỉ thị môi trường lao động cho cán bộ nhân viên phục vụ, làm cơ sở phân loại điều kiện môi trường lao động cho các công việc ở từng loại hình cơ sở, làm căn cứ xây dựng chế độ chính sách riêng cho lĩnh vực này do ngành quản lý. Để thực hiện được dự án, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cần phối hợp với Bộ Y-tế xây dựng và thực hiện kế hoạch rà soát, kiểm tra môi trường chung và môi trường lao động trong tất cả các loại hình cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng đối tượng do ngành quản lý. Qua thực tế khảo sát ban đầu cho thấy môi trường ở các cơ sở sau có nhiều yếu tố gây tác hại đến sức khoẻ, thể lực của người phục vụ: Cơ sở tâm thần xã hội có hình thái môi trường như các cơ sở y - tế điều trị bệnh nhân tâm thần. Thậm trí mức độ vệ sinh môi trường còn tồi tệ hơn các bệnh viện tâm thần, bởi vì vào đây là những đối tượng mãn tính, bệnh nặng không có khả năng chữa trị khỏi hẳn được mới đưa vào cơ sở xã hội tập trung. Môi trường vệ sinh rất kém, có nhiều nguy cơ nguy hiểm tiềm ẩn các bệnh truyền nhiễn, những tai nạn rủi ro từ đối tượng luôn có thể gây ra bất thần cho cán bộ, nhân viên. Các đối tượng lang thang thu gom ban đầu chưa khám và chưa phân định được bệnh tật cần điều trị và phân loại đưa về cơ sở xã hội chuyên biệt. Nhiều đối tượng có các loại bệnh xã hội như lao, viêm gan B, viêm gan siêu vi trùng, giang mai, lậu... những bệnh do lang thang có cuộc sống không vệ sinh mà đối tượng mắc phải không biết và không chữa trị. Các thương binh bệnh binh nặng, người già cô đơn do cơ thể đề kháng kém, phần vì tuổi già sức yếu, khi bị nhiễm bệnh có khả năng lây nhiễm mà chưa kịp khám phát hiện cũng dễ lây truyền sang người phục vụ. Vì nhiều đối tượng không tự nâng mình đi lại, nên nhiều hoạt động trong sinh hoạt người phục vụ phải tiếp xúc trực tiếp giúp đỡ đối tượng càng tạo môi trường lây nhiễm cao từ đối tượng sang họ./.
Số lượt đọc:
3734
-
Cập nhật lần cuối:
18/08/2006 10:30:30 AM Tình hình môi trường lao động ở vùng mỏ Quảng Ninh 1995-1998 18/08/2006 01:18' PM Nghiên cứu môi trường lao động một số ngành nghề đại diện cho Quảng Ninh, qua đo các yếu tố lý, hoá: vi khí hậu, hơi khí độc, tiếng ồn, bụi... theo thường qui của Viện YHLĐ và VSMT và khám sức khoẻ định kỳ cho công nhân theo qui định của Bộ Y tế nhằm đánh giá thực trạng môi trường lao động và sức khoẻ công nhân.
Đánh giá thực trạng môi trường lao động về bệnh nghề nghiệp trong ngành đường sắt 18/08/2006 01:14' PM Nghiên cứu trong 6 năm ( 1992-1997) đã khảo sát 4817 mẫu để đánh giá môi trường lao động: có 1527 mẫu không đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép (TCVSCP) chiếm 3 l,7%, trong đó ô nhiễm chủ yếu do bụi, ồn, hơi khí độc, xăng dầu, rung chuyển.
Đánh giá bước đầu ảnh hưởng của tiếng ồn và rung động đến thính lực và xương khớp của công nhân mỏ than Mạo Khê và Hà Lầm 18/08/2006 11:34' AM Nghiên cứu được tiến hành trên 300 đối tượng trong đó có 175 công nhân khoan đá và than bằng máy khí nén và khoan điện phải tiếp xúc với tiếng ồn cao và rung cục bộ lớn, số còn lại là sàng tuyển than và lái xe. Bằng phương pháp dùng phiếu câu hỏi, điều tra hồi cứu hồ sơ sức khoẻ, đo thính lực sơ bộ, làm các kiểm tra nhiệt độ của ngón tay, cảm nhận rung, chụp phim X quang để đánh giá tác động của môi trường đến sức khoẻ của công nhân.
Một số nhận xét về bệnh lý trên những bệnh nhân được giám định bệnh phổi nghề nghiệp trại Hội đồng giám định y khoa tỉnh Thái Nguyên năm 1997-1998 18/08/2006 11:29' AM Hơn 50% trường hợp được giám định có rối loạn chức năng hô hấp 199/386). Đặc biệt có tới gần 10% số bệnh nhân có suy giảm chức năng hô hấp độ 3. Về tổn thương X-quang, đa số là thể 1p (tổn thương giai đoạn đầu), trường hợp bệnh lý thường gặp ở các công nhân có bậc nghề 4 và 5. Tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh bụi phổi và được giám định tại các cơ sở luyện cán thép khá cao so với các cơ sở sản xuất tại Thái Nguyên.
Tình hình ngộ độc thuốc diệt cỏ Paraquat (Gramoxone) ở một số tỉnh phía Nam - Biện pháp phòng ngừa và điều trị 18/08/2006 11:24' AM Số ngộ độc Paraquat ngày càng ra tăng. Trong 42 ca được gửi đến viện Chợ Rẫy 3 năm qua thì 95 % là do tự tử. Tỷ lệ tử vong 85%. Tỉnh gửi bệnh nhân đến nhiều nhất là Đồng Nai (27 ca, chiếm 62,8%), rồi tới Bà Rịa - Vũng tàu, Bình Thuận, Tiền Giang, Lâm Đồng. Về tổn thương Paraquat gây nên: Loét miệng qua đường uống (100%); suy hô hấp (>80%); suy gan (>60%); suy thận (>50%); tràn khí trung thất, dưới da, màng phổi (7%); truỵ mạch (4,5%), thủng thực quản (4,5%).
Ảnh hưởng tiếng ồn đến thính lực bộ đội sửa chữa máy bay 18/08/2006 11:20' AM Nghiên cứu ảnh hưởng của tiếng ồn máy bay AN-26 đến thính lực bộ đội sửa chữa máy bay tại nhà máy A-41 (Sân bay Tân Sơn Nhất - Thành phố Hồ Chí Minh) cho thấy: Tiếng ồn đo ở khoảng cách 10 m của động cơ máy bay khi nổ máy với tốc độ 14850 vòng/phút là 122 dBA, khi tăng lên 16000 vòng/phút, tiếng ồn đạt tới 130 dBA (ngưỡng đau tai). Kết quả kiểm tra thính lực 69 công nhân làm việc trong điều kiện tiếng ồn lớn tại 3 phân xưởng (Sửa chữa máy bay, Cơ khí và Trạm thử nghiệm động cơ) cho thấy: 8/69 công nhân bị tổn thương thính lực.
Một số nhận xét về nhiễm chì và Asen trong công nhân luyện kim màu 1997-1998 18/08/2006 11:15' AM Xét nghiệm về Asen cho 123 công nhân làm việc trong dây chuyền tinh chế kim loại màu cho thấy tỷ lệ nhiễm Asen tương đối cao có 54 trường hợp Asen niệu >= 0,1 mg/l. Trong số này đã có trường hợp nhiễm độc nặng, suy thận, urê huyết tăng cao phải điều trị tại bệnh viện. Do đó, cần có những biện pháp cụ thể và xây dựng được kế hoạch đảm bảo phòng và chống nhiễm độc cho công nhân trong diều kiện môi trường đang bị ô nhiễm hiện tại chưa thể khắc phục.
Bài đã đăng: Thông báo tình hình tai nạn lao động năm 1999 18/08/2006 10:08' AM Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội thông báo đến các ngành, các địa phương tình hình tai nạn lao động trong năm 1999 và một số biện pháp chính nhằm chủ động ngăn ngừa sự cố và tai nạn lao động trong năm 2000 như sau :
Tình hình tai nạn tháng 6 năm 2005 29/06/2006 08:30' AM Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thông báo đến các ngành, các địa phương tình hình tai nạn lao động trong 6 tháng đầu năm 2005 và một số giải pháp chủ yếu nhằm chủ động ngăn ngừa sự cố và tai nạn lao động trong 6 tháng cuối năm 2005 như sau :
Tình hình tai nạn năm 2005 29/06/2006 08:28' AM Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thông báo đến các ngành, các địa phương tình hình tai nạn lao động trong năm 2005 và một số giải pháp chủ yếu nhằm chủ động ngăn ngừa sự cố và tai nạn lao động trong năm 2006 như sau : |