Antoanlaodong
Đang tải dữ liệu...

Chào mừng các bạn đến với trang thông tin điện tử An toàn vệ sinh lao đông!
Tìm kiếm
Giới thiệu Cục ATLĐ
Tin tức - Sự kiện
  Thông tin chung
  Thông tin chuyên đề
  Tin tai nạn lao động
  ATVSLĐ quốc tế
  Thông báo
Tình hình tai nạn LĐ
Văn bản pháp luật
Danh mục Tiêu chuẩn
Công ước - Khuyến nghị
Chương trình quốc gia
Hồ sơ quốc gia
Tuần lễ quốc gia
Mạng thông tin ATVSLĐ
Nghiên cứu - Thống kê
Kiến thức - Huấn luyện
Hợp tác quốc tế
Liên hệ - Gửi bài
Giải thưởng Doanh nghiệp tiêu biểu về ATVSLĐ
Hoạt động ATVSLĐ do ILO - WHO hỗ trợ
Giải thưởng Doanh nghiệp tiêu biểu về ATVSLĐ
Gương tốt ATVSLĐ

Web liên kết
Ngày Thế giới về ATVSLĐ - 28/4

Các cơ quan ATVSLĐ quốc tế
Trang chủ  >  Tiếng Việt  >  Tin tức - Sự kiện  >  Thông tin chuyên đề

Môi trường lao động của công nhân khai thác than hầm lò

   
01:56' PM - Thứ năm, 17/08/2006

Khai thác than là một ngành công nghiệp mà người lao động phải làm việc trong môi trường khắc nghiệt. Trong đó, nghề khai thác than hầm lò được xếp vào loại lao động nặng nhọc độc hại, nguy hiểm và đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo quyết định 1435/LĐTBXH-QĐ ngày 13/10/1995 và quyết định 915 LĐTBXH-QĐ ngày 30/7/1996.
Hiện nay công nghệ và kỹ thuật khai thác than hầm lò ở nước ta chưa có nhiều đổi mới, các thiết bị đa phần là cũ và không đồng bộ. Than vẫn được khai thác thủ công từ khâu khoan nổ, đào chống, xúc, vận tải... Môi trường và điều kiện lao động dưới hầm lò rất khó khăn, khắc nghiệt, nặng nhọc, thiếu ánh sáng, thao tác gò bó hạn chế dễ gây tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi đã tiến hành khảo sát, nghiên cứu hiện trạng môi trường lao động và sức khoẻ công nhân khai thác than hầm lò nhằm đưa ra những khuyến nghị thiết thực góp phần chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ người lao động làm công việc đặc thù này. Việc khảo sát, nghiên cứu được tiến hành tại 4 mỏ than hầm lò là các mỏ Mạo Khê, Vàng Danh, Thống Nhất và Mông Dương.
Do điều kiện địa chất phức tạp, nên khi mở rộng khai thác, các đường lò ngày càng đi xa và xuống sâu, tiết diện lò chợ, lò cái hẹp không đúng thiết kế làm tăng sức cản thông gió. Các mỏ hầm lò đều có độ sâu từ vài chục mét đến 110m so với mặt nước biển, nhiệt độ đo được cao từ 28 – 31oC và độ ẩm nhiều vị trí đo cao hơn tiêu chuẩn vệ sinh cho phép tới 16%. ánh sáng hết sức quan trọng đối với sức khoẻ người lao động, song trong các hầm lò khai thác than, 100% các vị trí được đo, độ chiếu sáng chỉ đạt từ 18 – 44% so với tiêu chuẩn vệ sinh cho phép.
Tốc độ lưu chuyển không khí thường không ổn định. Một số vị trí lặng gió, tốc độ đo được chỉ từ 0,1 – 0,2m/s (mỏ Mông Dương, Thống Nhất) nhưng nhiều nơi lại có sự chênh lệch cao, tốc độ lưu chuyển không khí từ 0,5 – 1m/s (Mạo Khê, Vàng Danh và 1 số vị trí của mỏ Thống Nhất). Điều này rất bất lợi cho sự thích ứng của cơ thể. Việc thông gió cục bộ bằng quạt tương đối đầy đủ nhưng ở các gương lò lại có hiện tượng gió quẩn có hại cho sức khoẻ người lao động.
Trong hầm lò có rất nhiều bụi, bụi hầm lò được tạo ra bởi nổ mìn, vận tải, xúc than… Kết quả khảo sát cho thấy nồng độ bụi ở các hầm lò cao hơn nhiều TCVSCP. Bình thường, hàm lượng bụi trong không khí đã lên tới 95 – 100mg/m3, còn vào thời điểm khai thác nồng độ bụi cao gấp 35 lần TCVSCP. Đây là những yếu tố có nguy cơ cao gây bệnh viêm phế quản, bệnh bụi phổi nghề nghiệp. Về nồng độ các khí CO, SO2, NO2, tại các vị trí đo đều đảm bảo tiêu chuẩn cho phép, trừ nồng độ khí CO2 nhiều vị trí cao hơn TCVSCP đến 4 lần.
Khi đo nấm mốc, vi khuẩn có trong không khí hầm lò, ở nhiều vị trí đo có số khuẩn lạc cao gấp 2,5 –8,6 lần, còn nấm mốc có mặt ở khắp nơi trong hầm lò và đều cao hơn TCVSCP. Nhiều nơi số lượng nấm cao hơn gấp 20 lần, với số nấm mốc là 16.222 sợi/1m3 không khí và số khuẩn lạc tăng lên tới 104 KL. Với nồng độ nấm cao kết hợp với không khí nóng ẩm là điều kiện thuận lợi cho các bệnh ngoài da, bệnh nấm phát triển.
Lượng nước thải ở các mỏ hầm lò khá lớn, cụ thể mỏ Thống Nhất thải trung bình 1.500-2.000m3/ngày, mỏ Mông Dương khoảng 3.600m3/ngày. Nước thải có độ axit cao (pH 3,6 - 5,3) lại cộng thêm các chất thải đã làm tăng thêm sự ô nhiễm môi trường trong đường hầm.
Do đặc điểm, tính chất và điều kiện môi trường lao động không thuận lợi, nhiều biểu hiện bệnh có liên quan nghề nghiệp rõ rệt như bệnh bụi phổi silic, bệnh nấm da, nấm kẽ… Các bệnh thường gặp của công nhân hầm lò là bệnh xương khớp chiếm 12,60%, bệnh tiêu hoá 13,80%, bệnh thần kinh 26,30%, bệnh ngoài da 34,90%, bệnh hô hấp 32% và bệnh tai mũi họng là 69,50%. Nói chung, tỷ lệ bệnh mà công nhân khai thác than hầm lò mắc phải đều cao và có những công nhân cùng một lúc mắc 2,3 bệnh.
Với đặc điểm điều kiện và môi trường lao động như đã nêu trên, ảnh hưởng tác hại của chúng tới sức khoẻ người lao động là không tránh khỏi. Tình hình nghỉ việc do ốm đau và nghỉ tai nạn lao động cao, theo thống kê đối với lao động hầm lò trong các năm điều tra đều vượt quá 50 ngày/năm, số ngày nghỉ trung bình tối đa gấp 2,5 lần qui định. Cũng chính vì thế, không một người lao động có thể làm việc dưới hầm lò khi trên 50 tuổi.
Việc chăm lo sức khoẻ cho người lao động đặc biệt là lao động khai thác than hầm lò rất được sự quan tâm của lãnh đạo và công đoàn các mỏ, nhưng do tâm lý lo ngại mất việc làm, ảnh hưởng thu nhập nên một số người lao động bị mắc bệnh nghề nghiệp vẫn xin được xếp vào nhóm sức khoẻ loại II và III dù họ thuộc nhóm cần phải được điều dưỡng, phục hồi sức khoẻ hoặc bố trí công việc khác phù hợp. Đây là một thực tế cần được quan tâm nghiên cứu để có các giải pháp phù hợp. Theo chúng tôi, trước mắt chúng ta cần:
1- Có chương trình cụ thể từng bước thực hiện cải thiện môi trường và điều kiện làm việc của công nhân khai thác than hầm lò.
2- Tăng cường kiểm tra chế độ cấp phát, sử dụng trang bị bảo hộ lao động, chế độ ăn theo định lượng, chế độ cung cấp nước uống, chế độ cung cấp đủ nước tắm rửa sau ca làm việc. Tại các mỏ nên qui định địa điểm có luồng khí sạch để người lao động hầm lò ăn uống, nghỉ ngơi tại chỗ.
3- Thực hiện chế độ khám tuyển bắt buộc, duy trì khám sức khoẻ định kỳ, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp nhằm sắp xếp lao động hợp lý, tổ chức điều trị, điều dưỡng kịp thời.
4- Cần nhanh chóng xây dựng và ban hành tiêu chuẩn sức khoẻ – khám tuyển , khám định kỳ cho công nhân hầm lò. Việc xây dựng tiêu chuẩn đặc thù này phải do Trung tâm Y tế Lao động ngành than chủ trì, có sự phối hợp của các chuyên gia trung ương và ngành có khai thác hầm lò khác.
5- Từ những kết quả nghiên cứu , khảo sát trên, do đặc thù nghề nghiệp, đề nghị nhà nước có thể sửa đổi bổ sung qui định chế độ nghỉ ốm tối đa đối với công nhân làm dưới hầm lò được tăng chế độ đến 60 ngày/ năm. Ngoài ra, đề nghị nhà nước có qui định về thời gian lao động cũng như tuổi nghỉ hưu cho phù hợp. Trong thời gian chờ đợi, chưa giải quyết ngay được thì có thể qui định trên 50 tuổi không được làm việc trong hầm lò./.

PGS. TS Khúc Xuyền
Giám đốc TT Sức khoẻ Nghề nghịêp& MT
Phó Chủ tịch-Tổng Thư ký Hội YHLĐ Việt Nam

Bài mới:  
Nổ thùng phuy hóa chất
15/04/2011 10:24' AM
Ồ ạt thợ lò bỏ việc
20/11/2010 11:07' AM
Bài đã đăng:
Tin tai nạn lao động
Tai nạn lao động nghiêm trọng, một người chết thảm
Tai nạn tại nhà máy thủy điện, 8 người chết
Lật giàn khoan dầu Nga, 53 người có thể đã chết
Cảnh báo 'bom nổ chậm' từ bình gas
Ngửi mùi gas rò, chủ nhà bật bếp kiểm tra gây nổ
Hình ảnh ATVSLĐ

Tài liệu - Ấn phẩm

Thông tin bổ trợ