Khai thác than là một ngành công nghiệp mà người lao động phải làm việc trong môi trường khắc nghiệt. Trong đó, nghề khai thác than hầm lò được xếp vào loại lao động nặng nhọc độc hại, nguy hiểm và đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo quyết định 1435/LĐTBXH-QĐ ngày 13/10/1995 và quyết định 915 LĐTBXH-QĐ ngày 30/7/1996. Hiện nay công nghệ và kỹ thuật khai thác than hầm lò ở nước ta chưa có nhiều đổi mới, các thiết bị đa phần là cũ và không đồng bộ. Than vẫn được khai thác thủ công từ khâu khoan nổ, đào chống, xúc, vận tải... Môi trường và điều kiện lao động dưới hầm lò rất khó khăn, khắc nghiệt, nặng nhọc, thiếu ánh sáng, thao tác gò bó hạn chế dễ gây tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi đã tiến hành khảo sát, nghiên cứu hiện trạng môi trường lao động và sức khoẻ công nhân khai thác than hầm lò nhằm đưa ra những khuyến nghị thiết thực góp phần chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ người lao động làm công việc đặc thù này. Việc khảo sát, nghiên cứu được tiến hành tại 4 mỏ than hầm lò là các mỏ Mạo Khê, Vàng Danh, Thống Nhất và Mông Dương. Do điều kiện địa chất phức tạp, nên khi mở rộng khai thác, các đường lò ngày càng đi xa và xuống sâu, tiết diện lò chợ, lò cái hẹp không đúng thiết kế làm tăng sức cản thông gió. Các mỏ hầm lò đều có độ sâu từ vài chục mét đến 110m so với mặt nước biển, nhiệt độ đo được cao từ 28 – 31oC và độ ẩm nhiều vị trí đo cao hơn tiêu chuẩn vệ sinh cho phép tới 16%. ánh sáng hết sức quan trọng đối với sức khoẻ người lao động, song trong các hầm lò khai thác than, 100% các vị trí được đo, độ chiếu sáng chỉ đạt từ 18 – 44% so với tiêu chuẩn vệ sinh cho phép. Tốc độ lưu chuyển không khí thường không ổn định. Một số vị trí lặng gió, tốc độ đo được chỉ từ 0,1 – 0,2m/s (mỏ Mông Dương, Thống Nhất) nhưng nhiều nơi lại có sự chênh lệch cao, tốc độ lưu chuyển không khí từ 0,5 – 1m/s (Mạo Khê, Vàng Danh và 1 số vị trí của mỏ Thống Nhất). Điều này rất bất lợi cho sự thích ứng của cơ thể. Việc thông gió cục bộ bằng quạt tương đối đầy đủ nhưng ở các gương lò lại có hiện tượng gió quẩn có hại cho sức khoẻ người lao động. Trong hầm lò có rất nhiều bụi, bụi hầm lò được tạo ra bởi nổ mìn, vận tải, xúc than… Kết quả khảo sát cho thấy nồng độ bụi ở các hầm lò cao hơn nhiều TCVSCP. Bình thường, hàm lượng bụi trong không khí đã lên tới 95 – 100mg/m3, còn vào thời điểm khai thác nồng độ bụi cao gấp 35 lần TCVSCP. Đây là những yếu tố có nguy cơ cao gây bệnh viêm phế quản, bệnh bụi phổi nghề nghiệp. Về nồng độ các khí CO, SO2, NO2, tại các vị trí đo đều đảm bảo tiêu chuẩn cho phép, trừ nồng độ khí CO2 nhiều vị trí cao hơn TCVSCP đến 4 lần. Khi đo nấm mốc, vi khuẩn có trong không khí hầm lò, ở nhiều vị trí đo có số khuẩn lạc cao gấp 2,5 –8,6 lần, còn nấm mốc có mặt ở khắp nơi trong hầm lò và đều cao hơn TCVSCP. Nhiều nơi số lượng nấm cao hơn gấp 20 lần, với số nấm mốc là 16.222 sợi/1m3 không khí và số khuẩn lạc tăng lên tới 104 KL. Với nồng độ nấm cao kết hợp với không khí nóng ẩm là điều kiện thuận lợi cho các bệnh ngoài da, bệnh nấm phát triển. Lượng nước thải ở các mỏ hầm lò khá lớn, cụ thể mỏ Thống Nhất thải trung bình 1.500-2.000m3/ngày, mỏ Mông Dương khoảng 3.600m3/ngày. Nước thải có độ axit cao (pH 3,6 - 5,3) lại cộng thêm các chất thải đã làm tăng thêm sự ô nhiễm môi trường trong đường hầm. Do đặc điểm, tính chất và điều kiện môi trường lao động không thuận lợi, nhiều biểu hiện bệnh có liên quan nghề nghiệp rõ rệt như bệnh bụi phổi silic, bệnh nấm da, nấm kẽ… Các bệnh thường gặp của công nhân hầm lò là bệnh xương khớp chiếm 12,60%, bệnh tiêu hoá 13,80%, bệnh thần kinh 26,30%, bệnh ngoài da 34,90%, bệnh hô hấp 32% và bệnh tai mũi họng là 69,50%. Nói chung, tỷ lệ bệnh mà công nhân khai thác than hầm lò mắc phải đều cao và có những công nhân cùng một lúc mắc 2,3 bệnh. Với đặc điểm điều kiện và môi trường lao động như đã nêu trên, ảnh hưởng tác hại của chúng tới sức khoẻ người lao động là không tránh khỏi. Tình hình nghỉ việc do ốm đau và nghỉ tai nạn lao động cao, theo thống kê đối với lao động hầm lò trong các năm điều tra đều vượt quá 50 ngày/năm, số ngày nghỉ trung bình tối đa gấp 2,5 lần qui định. Cũng chính vì thế, không một người lao động có thể làm việc dưới hầm lò khi trên 50 tuổi. Việc chăm lo sức khoẻ cho người lao động đặc biệt là lao động khai thác than hầm lò rất được sự quan tâm của lãnh đạo và công đoàn các mỏ, nhưng do tâm lý lo ngại mất việc làm, ảnh hưởng thu nhập nên một số người lao động bị mắc bệnh nghề nghiệp vẫn xin được xếp vào nhóm sức khoẻ loại II và III dù họ thuộc nhóm cần phải được điều dưỡng, phục hồi sức khoẻ hoặc bố trí công việc khác phù hợp. Đây là một thực tế cần được quan tâm nghiên cứu để có các giải pháp phù hợp. Theo chúng tôi, trước mắt chúng ta cần: 1- Có chương trình cụ thể từng bước thực hiện cải thiện môi trường và điều kiện làm việc của công nhân khai thác than hầm lò. 2- Tăng cường kiểm tra chế độ cấp phát, sử dụng trang bị bảo hộ lao động, chế độ ăn theo định lượng, chế độ cung cấp nước uống, chế độ cung cấp đủ nước tắm rửa sau ca làm việc. Tại các mỏ nên qui định địa điểm có luồng khí sạch để người lao động hầm lò ăn uống, nghỉ ngơi tại chỗ. 3- Thực hiện chế độ khám tuyển bắt buộc, duy trì khám sức khoẻ định kỳ, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp nhằm sắp xếp lao động hợp lý, tổ chức điều trị, điều dưỡng kịp thời. 4- Cần nhanh chóng xây dựng và ban hành tiêu chuẩn sức khoẻ – khám tuyển , khám định kỳ cho công nhân hầm lò. Việc xây dựng tiêu chuẩn đặc thù này phải do Trung tâm Y tế Lao động ngành than chủ trì, có sự phối hợp của các chuyên gia trung ương và ngành có khai thác hầm lò khác. 5- Từ những kết quả nghiên cứu , khảo sát trên, do đặc thù nghề nghiệp, đề nghị nhà nước có thể sửa đổi bổ sung qui định chế độ nghỉ ốm tối đa đối với công nhân làm dưới hầm lò được tăng chế độ đến 60 ngày/ năm. Ngoài ra, đề nghị nhà nước có qui định về thời gian lao động cũng như tuổi nghỉ hưu cho phù hợp. Trong thời gian chờ đợi, chưa giải quyết ngay được thì có thể qui định trên 50 tuổi không được làm việc trong hầm lò./.
PGS. TS Khúc Xuyền Giám đốc TT Sức khoẻ Nghề nghịêp& MT Phó Chủ tịch-Tổng Thư ký Hội YHLĐ Việt Nam
Những vấn đề cần giải đáp khi sử dụng bình gas, bếp gas 04/11/2011 09:05' AM "Là một kỹ sư trong lĩnh vực LPG - gas hóa lỏng, tôi rất đau lòng khi
đọc những thông tin tai nạn nổ hơi gas sập nhà sáng nay. Tôi mong muốn
gửi tới người tiêu dùng những thông tin cơ bản nhất để sử dụng gas an
toàn, hiệu quả, cũng như cách xử lý các tình huống tình huống khẩn cấp",
độc giả Nguyễn Khắc Trí chia sẻ cùng bạn đọc. Tổ chức y tế thế giới (WHO) cảnh báo: Điện thoại di động có thể gây ung thư03/06/2011 03:45' PM TT - Một nhóm chuyên gia của WHO vừa xếp điện thoại di động vào danh
sách các tác nhân có thể gây ung thư, ngang hàng với thuốc trừ sâu DDT
và khói thải từ các phương tiện giao thông. Sập hầm vàng, 5 người bị vùi chết05/05/2011 10:15' AM Chiều 1/5, khi đang đào đãi vàng ở huyện miền núi Tương Dương (Nghệ An) bất ngờ hầm sập, 5 người bị vùi chết, trong đó có em học sinh cấp 2 tranh thủ ngày nghỉ lễ đi đào vàng kiếm tiền. Nổ thùng phuy hóa chất15/04/2011 10:24' AM Sáng 12/4, hơn 100 công nhân viên hoảng hốt khi nghe tiếng nổ từ bên hông khu vực kho chứa hóa chất thuộc Công ty TNHH thiết bị điện tử Daewoo (khu công nghiệp Tân Định, huyện Bến Cát, Bình Dương). Những phụ nữ nghèo 'cõng' nghề độc hại 10/03/2011 03:32' PM Sáng sớm, cánh đồng xóm 8, xã Nga An, huyện Nga Sơn (Thanh Hóa) nồng nặc mùi thuốc sâu. Hầu hết khách qua đường phải đưa tay lên che mũi, đi thật nhanh. Chỉ có người phụ nữ dáng lam lũ giữa cánh đồng vẫn mải mốt khỏa chiếc vòi phun, bụi thuốc bay mù mịt.
Đếm ngày khai tử lò gạch 20/11/2010 11:14' AM Thời hạn xóa sổ lò gạch thủ công (hết năm 2010) sắp cận kề, thế nhưng, ở những “vương quốc” sản xuất gạch ngói, khói từ lò gạch thủ công vẫn tỏa nghi ngút. Ba người tử vong do nung đốt gạch thủ công ở Lai Sơn (Bắc Sơn, Sóc Sơn, Hà Nội) vừa qua là lời cảnh báo cho sự bê trễ, chậm chạp ấy... Ồ ạt thợ lò bỏ việc 20/11/2010 11:07' AM Theo TKV, nguyên nhân thợ lò bỏ việc là vì môi trường lao động độc hại, tiềm ẩn nhiều nguy cơ tai nạn, lương chưa tương xứng với công sức bỏ ra. Công nhân phải sống xa gia đình; nhiều nơi, nhiều chỗ, điều kiện ăn, ở, giải trí khó khăn, xa nơi tập trung dân cư thành thị. Công nhân lò hầu hết trình độ học vấn không cao, cơ hội thăng tiến rất thấp. Khó có khả năng định cư lâu dài để ổn định cuộc sống. Bài đã đăng: Làng nghề kim khí Thanh Thùy còn nhiều tai nạn 01/01/1900 12:00' AM Nghề kim khí là nghề truyền thống lâu đời của xã Thanh Thùy, huyện Thanh Oai, Hà Tây. Có nghề, đời sống nhân dân từng ngày đổi thay nhưng cũng để lại cho người dân nhiều tai nạn đáng tiếc. Chăm sóc sức khoẻ và phòng chống bệnh nghề nghiệp cho người lao động trong ngành công nghiệp 17/08/2006 01:54' PM Sản xuất công nghiệp có nhiều ngành nghề đặc thù, nặng nhọc, nguy hiểm, độc hại. Các doanh nghiệp mới cũ đan xen nhau, với khoảng 50-60% doanh nghiệp sử dụng công nghệ, thiết bị cũ, năng suất lao động thấp. Môi trường lao động còn xấu, chỉ số ô nhiễm ở mức cao; điều kiện lao động vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây sự cố thiết bị, cháy nổ, TNLĐ và BNN Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 17/08/2006 01:53' PM Với xu thế toàn cầu hoá và tự do thương mại, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt là không tránh khỏi do các hàng rào hạn ngạch, thuế quan dần dần bị xoá bỏ và một loại hàng rào mới xuất hiện. Đó là các hàng rào kỹ thuật như yêu cầu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, về an toàn vệ sinh lao động và hệ thống quản lý môi trường(QLMT)...
Thực hiện chính sách bồi thường, trợ cấp đối với người bị TNLĐ 17/08/2006 01:54' PM Qua hơn một năm thực hiện chính sách bồi thường, trợ cấp TNLĐ, BNN nhìn chung đã được thực hiện nghiêm chỉnh, NLĐ được bồi thường thoả đáng, không có khiếu nại nào trong quá trình thực hiện đã thể hiện sự đúng đắn của chính sách, lợi ích chính đáng của NLĐ được bảo vệ, song cũng còn một số vấn đề cần được làm rõ “Nghịch cảnh làng nghề” 10/08/2006 04:41' PM Mẫn Xá nổi tiếng vì nghề cô, đúc nhôm, nhưng hiện nay làng nghề ngày cũng thêm “nổi tiếng” vì… ô nhiễm môi trường. Những cư dân nơi đây thì thấy bình thường, vì ở mãi nên quen quá, mặc dù biết rằng không khí rất ô nhiễm. Người lạ thì chỉ cần mới ngấp nghé đầu làng cũng đã thấy kinh khủng vì bụi và mùi hôi. An toàn vệ sinh lao động trong sản xuất nông nghiệp 10/08/2006 04:39' PM Nhiều tiến bộ KHKT đã được áp dụng: sử dụng máy nông nghiệp vào các khâu sản xuất; sử dụng phân bón hoá chất, thuốc bảo vệ thực vật; sử dụng giống cây mới, góp phần tăng năng suất, sản lượng cây trồng vật nuôi, tạo nguồn thu nhập và từng bước cải thiện điều kiện lao động, điều kiện sống, điều kiện sống của người dân. Song bên cạnh đó, bảo đảm ATVSLÐ cho người lao động trong sản xuất nông nghiệp đang tồn tại nhiều vấn đề cần phải lưu tâm: vận chuyển, pha chế, sử dụng, bảo quản hoá chất, thuốc bảo vệ thực vật không an toàn; tai nạn lao động khi sử dụng máy móc nông nghiệp, sử dụng điện còn nhiều; môi trường lao động đang ngày càng ô nhiễm;... gây ảnh hưởng xấu đến tính mạng và sức khoẻ của người lao động.
Thực trạng ATVSLĐ và bảo vệ môi trường ở đồng bằng sông Cửu Long 10/08/2006 04:07' PM Thời gian qua, cùng với sự chuyển biến của cả nước về công tác ATVS LĐ và BVMT khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) cũng có sự thay đổi song chưa rõ nét - đây cũng là tình hình chung của công tác bảo hộ lao động và bảo vệ môi trường trong nông nghiệp. Viện NC-KHKT Bảo hộ lao động - Tổng LĐLĐ VN đã có những cố gắng nhất định trong việc thâm nhập công tác BHLĐ ở khu vực này.
|