(Ngày 12 tháng 3 năm 1999, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có thông báo số 772/LĐTBXH-TTAT thông báo tình hình tai nạn lao động năm 1998)
Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội thông báo đến các ngành, các địa phương tình hình tai nạn lao động chết người năm 1998 và một số biện pháp chính nhằm chủ động ngăn ngừa sự cố và tai nạn lao động trong năm 1999 như:
I TÌNH HÌNH CHUNG 1 . Số vụ TNLĐ năm 1998 Theo số liệu thống kê, báo cáo của các địa phương, trong năm 1998 đã xảy ra 2.737 vụ tai nạn lao động, trong đó có 312 vụ chết người làm 362 người chêt và người bị thương (có 97 người bị thương năng) Tăng 212 vụ tai nạn lao động chết người có 58 vụ làm chết và bị thương từ 2 người trở lên (97 người chết và 91 người bị thương, chiếm 19,% về số vụ)
2. Tình hình TNLĐ ở các địa phương. Các địa phương xảy ra nhiều tai nạn lao động trong năm 1998 - Thành phố Hồ Chí Minh xảy ra 339 vụ TNLĐ (trong đó có 31 vụ chết người ) làm 32 người chết và 315 người bị thương. - Quảng Ninh xảy ra 314 vụ TNLĐ (trong đó có 16 vụ chết người ) làm 21 người chết và 321 người bị thương. - Thái Nguyên xảy ra 281 vụ TNLĐ (trong đó có 7 vụ chết người) làm 30 người chết và 284 người bị thương ; - Hà Nội xảy ra 224 vụ TNLĐ (trong đó có 21 vụ chết người ) làm 21 người chết và 203 người bị thương; - Khánh Hoà xảy ra 199 vụ TNLĐ (trong đó có 6 vụ chết người ) làm 6 người chết và 196 người bị thương ; - Hải Phòng xảy ra 193 vụ TNLĐ (trong đó có 8 vụ chết người ) làm 8 người chết ,206 người bị thương - Đồng Nai xảy ra 163 vụ TNLĐ (trong đó có 17 vụ chết người ) làm 18 người chết; - Tây Ninh xảy ra 123 vụ TNLĐ (trong đó có 3 vụ Chết người ) làm 3 người chết, 121 người bị thương Trong năm 1998, những địa phương có số vụ tai nạn lao động chết người và số người chết tăng lên so với năm 1997 là : Bình Thuận tăng 78%, lâm Đồng tăng 68%, Quảng Nam tăng 67% , Hải Dương tăng 58%, Khánh Hoà tăng 57 %, Bình Dương tăng 50%... Những địa phương không có hoặc ít xảy ra tai nạn lao động chết người là: Hà Tĩnh, Cao Bằng, Bắc Cạn, AN Giang, Đồng Tháp, Hà Nam, Hoà Bình, Phú Thọ, TràVinh. Một số địa phương có số vụ tai nạn lao động chết người giảm so với năm 1997 là : Kiên Giang giảm 75%, Nghệ An giảm 75%, Tây Ninh giảm 67%, Quảng Ninh giảm 38%...
II PHÂN TÍCH CÁC VỤ TAI NẠN LAO ĐỘNG 1. Những lĩnh vực xảy ra nhiều tai nạn lao động A, Xây dựng. Năm 1993 trong lãnh đạo xây dựng đã xảy ra 291 vụ tai nạn lịch sử (trong đó có 50 Vụ tai nạn lao động chết người làm 61 người chết, chiếm 16% tổng số vụ TNLĐ chết người trong cả nước) cụ thể như sau: - 187 vụ tai nạn lao động do ngã cao (trong đó có 32 vụ tai nạn lao động chết người, làm 32 người chết). - 101 vụ TNLĐ do đổ công trình đang xây dựng và trong phá dỡ công trình (trong đó có 13 vụ TNLĐ chết người làm chết 24 người, bị thương 35 người ) - 4 vụ TNLĐ do sập đất trong xây dựng các công trình (dân dụng, giao thông ) làm chết 4 người và bị thương 3 người. So với năm 1997 số vụ TNLĐ chết người và số người chết giảm (năm 1997: 81 vụ, 91 người chết).
B, Lắp đặt, sửa chữa và sử dụng điện. Năm 1998 xảy ra 103 vụ tai nạn lao động do điện giật (trong đó có 51 vụ tai nạn lao động chết người làm 51 người chết và bị thương 9 người, chiếm 18% tổng số vụ TNLĐ chết người trong cả nước) cụ thể như sau; - 9 vụ TNLĐ chết người (9 người chết ) do điện cao thế; - 8 vụ TNLĐ chết người (8 người chết ) do sửa chữa đường dây sinh hoạt; - 9 vụ TNLĐ chết người (8 người chết) do sử dụng điện máy hàn điện; - 5 vụ TLĐ chết người (5 người chết ) do sử dụng máy bơm điện;… So với năm 1997 số vụ TNLĐ chết người và số người chết giảm (năm 1997: 52 vụ, 56 người chết). Các vụ tai nạn lao động thường xảy ra trong khi thi công các công trình phát quang tuyến; Lắp dựng, sửa chữa cột và đường dây cao, hạ thế,…
C, Khai thác khoáng sản và khai thác đá. Năm 1998, trong lĩnh vực khai thác tài nguyên khoáng sản đã xảy ra 30 vụ tai nạn lao động chết người làm chết 59 người, bị thương 22 người khác (chiếm 11% tổng số vụ TNLĐ chết người trong cả nước), cụ thể như sau: - Khai thác khoáng sản 8 vụ làm chết 35 người và bị thương 4 người - Khai thác đá 13 vụ làm chết 13 người - Sử dụng vật liện nổ 9 vụ làm chết 11 người và bị thương 5 người So với năm 1997 số VTNLĐ chết người giảm nhưng số người chết tăng (năm 1997 :36 vụ, 56 người chết).
D, sử dụng các thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động. Năm 1998, ở lĩnh vực sử dụng các thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động đã xảy ra 43 vụ tai nạn lao động (trong đó 25 vụ TNLĐ chết người làm chết 27 người và bị thương 11 người chiếm 8% tổng số vụ TNLĐ chết người trong cả nước), cụ thể như sau; - Trong sử dụng thiết bị chịu áp lực 6 vụ TNLĐ chết người làm 6 người chết và 8 người bị thương - Trong sử dụng thiết bị năng 19 vụ TNLĐ chết người làm chết 21 người và bị thương 3 người .
So với năm 1997, tai nạn lao động, xảy ra trong sử dụng thiết bị năng và thiết bị chịu áp lực tăng cả về số vụ và số người chết (năm 1997: 17 vụ làm 17 người chết à 3 người bị thương trong sử dụng thiết bị nâng và 3 vụ làm 3 người chết và 5 người bị thương trong sử dụng thiết bị chịu áp lực).
Ngoài ra trong năm 1998 có 728 vụ tai nạn lao động do máy móc, thiết bị cuốn, kepk, văng bắn, va đập; 393 vụ tai nạn do xe đổ, tai nạn giao thông trong quá trình lao động hoặc trong quá trình đi công tác, đi làm về hoặc đến nơi làm việc (tai nạn giao thông được công nhận tai nạn lao động ); 148 vụ cây đổ; cành rơi trong quá trình khai thác và vận chuyển gỗ, phát quang tuyến đường điện,..
2. Một số vụ tai nạn lao động chết người nghiêm trọng trong năm 1998. Ngoài những vụ tai nạn lao động nghiêm trọng đã nêu trong thông báo tình hình tai nạn lao động 6 tháng đầu năm 1998 (số 1545/LĐTBXH_ATLĐ ngày 7/8/1998), chúng tôi xin nêu thêm một số vụ tai nạn lao động chết người nghiêm trọng xảy ra trong 6 tháng cuối năm sau đây: 1, Ngày 02/7/98 tại Lò gạch tư nhân của O Vũ Minh Khoán ở xã Tô Hiệu, Thường Tính ,Hà Tây đã xảy ra vụ đổ tượng lò, đè chết 1 người và làm bị thương 2 người khác 2. Ngày 3/7/98 tại công trường kiến thiết cơ bản 13 mỏ than Thống Nhất, Quảng Ninh đã xảy ra sự cố bục nước là làm 3 người chết và 3 người khác bị thương 3, Ngày 27/7/1998 tại Trụ tháp P2, cầu Cầm Quảng Ninh đã xảy ra vụ tai nạn lao động do văng đầu búa đóng cọc của cẩu 25 tấn ký hiệu KC5363 làm chết 2 người 4, Ngày 26/8/1998 tại tuyến đường dây 300KV (tuyến 2 vị trí G1, tuyến 6KV) thuộc tỉnh Gia Lai xảy ra vụ đổ cột điện làm chết 1 người và bị thương 1 người khác. 5, Ngày 30/8/98 tại công trình phá dỡ nhà 5 tầng của Công ty Xi măng Bỉm Sơn, Thanh Hoá do công ty xây dựng K2-TCTXD Hà Nội thực hiện xảy ra vụ tai nạn lao động do sập một đơn nguyên làm chết 5 người và bị thương 10 người khác. 6, Ngày 01/9/98 tại công trình XD nhà làm việc của Công ty điện - điện báo thuộc tỉnh Lai Châu, do công ty xây dựng bưu điện lai Châu thi công, đã xảy ra vụ đổ tường làm chết 1 người và 2 người khác bị thương 7, Ngày 24/8/98 tại Công trình xây dựng ở huyện Cái Bè, Tiền Giang do công ty SKKD xây dựng Phan Vũ thi công, đã xảy ra vụ tai nạn lao động do chạm vào đường dây điện hạ thế làm 1 người chết và 4 người khác bị thương Ngày 23/10/98 tại Công trình ở Nhập Thạch , Đồng Nai do Công ty xây lắp điện 2 thi công đã xảy ra vụ đứt cáp thang năng làm 2 người chết và 1 người bị thương
3. Nguyên Nhân xảy ra các vụ tai nạn lao động chết người Qua kết quả điều tra và phân tích cho thấy nguyên nhân chủ yếu của các vụ tai nạn lao động chết người xảy ra trong năm 1998 là do người sử dụng lao động và người lao động vi phạm quy định của Bộ Luật lao động về an toàn lao động, vệ sinh lao động (chiếm 93% tổng số vụ) và thể hiện ở một số điểm sau đây: + Vi phạm các tiêu chuẩn, quy phạm, quy trình kỹ thuật an toàn chiếm 64.2% về số vụ (so với năm 1997 tăng 7%) đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng vận hạnh, sửa chữa và xây dựng đường dây cao, hạ thế- trạm biến áp; trong sử dụng,các máy, thiết bị, vật tư và các chất có yếu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động trong khai thác đã và khoáng sản.v. + Điều kiện làm việc và môi trường làm việc của người lao động không bảo đảm các tiêu chuẩn quy định (chiếm 16.3% về số vụ); nhiều máy, thiết bị, công cụ sản xuất không đảm bảo an toàn; sử dụng không thực hiện các quy định khai báo, đăng ký và xin cấp phép sử dụng các thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động; do đó nhiều thiết bị đang sử dụng nhưng chưa được khám nghiệm, cấp giấy phép sử dụng, nhất là đối với những thiết vị tự chế tạo; người lao động không được trang bị các phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động . + người sử dụng lao động không nắm được các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động trong hoạt động, kinh doanh của mình hoặc do chạy theo năng suất lợi nhuận nên đã không thực hiện các giải pháp về an toàn lao động, vệ sinh lao động (chiếm 8,2% về số vụ) + người lao động không được huấn luyện về an toàn lao động, đặc biệt là số lao động thời vụ không có hợp đồng lao động hoặc hợp đồng ngắn hạn (chiếm 4,3% về số vụ); chất lượng huấn luyện an toàn lao động chưa tốt hoặc hình thức. + Nguyên nhân do khách quan hoặc các nguyên nhân khác chiếm 7% số vụ.
4. Thiệt hại về vật chất. Theo báo cáo của 54 địa phương, thiệt hại do tai nạn lao động chết người gây ra (về máy nóc, thiết bị; nhà xưởng; tiền thuốc men, chăm sóc và bồi thường cho người bị nạn) là 12.728.926.644 đồng, trong đó thiệt hại về tài sản 3.364.600.000 đồng.
III TÌNH HÌNH ĐIỀU TRA VÀ XỬ LÝ TAI NẠN LAO ĐỘNG. 1. Về điều tra Thực hiện chỉ thị của Lãnh đạo Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội Thanh tra Nhà nước về an toan lao động thuộc Bộ đã tích cực chỉ đạo Thanh tra các thực hiện tốt việc điều tra không đúng thủ tực, xác định nguyên nhân và biện pháp xử lý không đúng. Do đó Việc điều tra kịp thời hơn, chất lượng điều tra, số lượng các vụ được điều tra đã được nâng lên. Tuy nhiên trong việc điều tra và giải quyết các vụ tai nạn lao động còn có một số tồn tại: - Một số vụ tai nạn lao động xảy ra trong năm 1998 chưa được điều tra (thành phố Hồ Chí Minh còn 5 vụ, Hải Dương 7 vụ, Bình THuận 5 vụ, Hải Phòng 5 vụ, Đồng Nai 5 vụ, Hưng Yên 4 vụ, Ninh Bình 4 vụ…), thời gian điều tra một số vụ tai nạn lao động còn kéo dài. - Một số vụ xác định, còn nêu lẫn lộn giữa nguyên nhân và diễn biến, có vụ tai nạn lao động nguyên nhân trực tiếp do người bị nạn vi phạm nhưng không quy trách nhiệm (người chết) hoặc không quy trách nhiệm những người có lỗi liên đới để xảy ra tai nạn lao động. - Một số vụ tai nạn lao động đã xác định nguyên nhân và đề ra biện pháp phòng ngưà đúng nhưng khi quy kết trách nhiệm của những người có lỗi trong vụ tai nạn lao động không căn cứ vào nguyên nhân xảy ra TNLĐ. - Một số vụ thành phần Đoàn điều tra tai nạn lao động không đúng theo quy định. - Còn nhiều vụ tai nạn lao động chết người xảy ra ở khu vực tư nhân chưa được tiến hành điều tra. - Việc tự điều tra TNLĐ theo thẩm quyền của các doanh nghiệp thưo quy định tại Thông tư 03/1998/TTLT-BYT-TLĐLĐVN của liên Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội – Bộ y tế và Tổng Liên Đoàn lao động Việt Nam ngày 26/3/1998 thực hiện chưa tốt
2. Thống kê, báo cáo tai nạn lao động Năm 1998 hầu hết các địa phương đã thực hiện tốt việc thống kê, TNLĐ theo quy định tại Thông tư số 23/LĐTBxh_TT ngày 18/11/1996 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội. Tuy nhiên một số địa phương chỉ thống kê đượ tai nạn lao động chết n như An Giang, Quảng Binh, Bình Dương, một số địa phương còn báo cáo chậm và không đúng mẫu quy định ; nhiều doanh nghiệp chưa thực hiện báo cáo tai nạn lao động theo quy định. 3. xử lý tai nạn lao động Ngoài các vụ TNLĐ chết người, các đoàn điều tra TNLĐ đề nghị xử lý hành chính, trong năm 1998 các đoàn điều tra TNLĐ ở Trung ương và địa phương đã đề nghị các cơ quan có thẩm quyền đưa ra xét xử trước pháp luật các vụ tai nạn lao động nghiêm trọng sau đây. 1. Vụ tai nạn đổ tường xảy ra ngày 3/3/1998 tại một công trình thuộc xã Bình An,huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương đè chết 2 người và bị thương 1 người khác. 2. Vụ tai nạn đổ tường mới xây cao 12.8m và rộng 24m xảy ra ngày 23/3/1998 tại nhà máy xay xát Thuận Phát, 209 đường 14-9 thị xã Vĩnh Long đè chết 5 người và 10 người khác bị thương. 3. vụ tai nạn đổ tường xảy ra ngày 19/4/1998 tại công trường xây dựng nhà thí nghiệm của trường Trung học Kỹ THuật ở tỉnh Phú Yên làm chết 2 người. 4. Vụ tai nạn điện giật xảy ra ngày 19/3/1998 tại cầu cảng Cảng Thuận An, Thừa Thiên Huế, Bộ Giao Thông Vận Tải, làm chết 1 người 5. Vụ tai nạn đổ cột điện xảy ra ngày 25/4/1998 tại cầu công trình xây dựng trung tâm thương mại 30/4 do Công Ty xây dựng Thuỷ Lợi Kiên Giang, Sở Giao Thông Vận Tải thi công đè chết 1 người và bị thương 1 người khác 6. Vụ tai nạn sập ô văng xảy ra ngày 18/5/1998 tại công trình xây dựng nhà dân phường Trần Đài, Thành phố Biên Hoà, Đồng Nai làm 1 người chết 7. Vụ tai nạn sập ô văng xảy ra ngay19/5/1998 tại công trình xây dựng nhà dân phường Tân Hoà Thành phố Biên Hoà, Đồng Nai làm 1 người chết. 8. Cụ tai nạn dập 1 đơn nguyên nhà 5 tầng xảy ra ngày 30/8/1998, tại công trình phá dõ nhà 5 tầng ở khu vực ci măng Bỉm Sơn, Thanh Hoá, do Công ty xây dựng K2-TCTXD Hà Nội, Bộ xây dựng thực hiện làm chết 5 người và 10 người khác bị thương. 9. Vụ tai nạn xe cán xảy ra ngày 9/9/1998 tại mỏ đã Nam Phương TIến. Hà Tây làm chết 1nj. 10. Vụ tai nạn đổ tường xảy ra ngày 25/10/1998 tại công trinh nhà dân ở Phương Vụ, Phương Dực, Phú Xuyên Hà Tây làm chết 1 người và bị thương 3 người. 11. Vụ sụt đất xảy ra ngày 28/11/1998 tại bãi khai thác tận thu vàng sa khoáng ở Bán Ná, Thần Sam huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên làm chết 8 người .
IV. ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ MỘT SỐ NỘI DUNG CHỦ YẾU CẦN THỰC HIỆN TRONG THỜI GIAN TỚI 1. Đánh giá chung. Năm 1998 các ngành các cấp và các doanh nghiệp đã có nhiều cố gắng thực hiện các quy định tại Bộ Luật lao động về an toàn lao động, vệ sinh lao động Việc khai báo, điều tra, thống kê ,báo cáo tai nạn lao động ở các địa phương có nhiều tiến bộ. Song nhìn ching điều kiện lao động chưa được cải thiện căn bản và đồng bộ (nhất là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh), do đó nguy cơ dẫn đến sự cố, tai nạn lao động còn nhiều. Qua số liệu thống kê và phân tích cho thấy: - So với năm 1997, số vụ tai nạn lao động xảy ra trong năm 1998 tăng nhiều (tăng 36% về số vụ) và những vụ tai nạn lao động nghiêm trọng vẫn còn nhiều. - Số vụ tai nạn lao động chết nhiều người (chết và bị thương 2 người trở nên). Trong năm 1998 giảm hơn so với năm 1997: năm 1998 là 58 vụ làm chét 96 người và 91 người bị thương, chiếm 19% về số vụ (năm 1997 là 62 vụ làm chết 143 người và 100 người bị thương, chiếm 20,8% về số vụ). - Một số lĩnh vực tai nạn lao động chệtn chiếm tỉ lệ cao trong năm 1997, và 1998 có chiều hường gia tăng như: sử dụng các máy, thiết bị, vật tư và các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động; xây dựng; khai thác đá và khoáng sản; lắp đặt, sửa chữa, sử dụng điện. - Hiện tượng người sử dụng lao động và người lao động vi phạm các tiêu chuẩn, quy phạm, quy trình kỹ thuật an toàn dẫn đến các tai nạn lao động có chiều hướng tăng. - Việc điều tra các vụ TNLĐ còn chậm và xử lý các vụ tai nạn lao động nghiêm trọng còn chưa kịp thời, đặc biệt là các vụ TNLĐ đề nghị truy tố trách nhiệm hình sự.
2. Một số nội dung chủ yếu cần thực hiện trong thời gian tới. Căn cứ vào tính hình tai nạn lao động năm 1998, để chủ động phòng ngừa tai nạn lao động trong năm 1999, Bộ Lao động – TBXH đề nghị: a. Các Bộ, Ngành quản lý, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: - Tăng cường tuyên truyền, phổ biến các quy định của Nhà nước về an toàn lao động, vệ sinh lao động nhằm nâng cao hơn nưa nhận thức của người sử dụng lao động và người lao động về an toàn lao động, vệ sinh lao động. - Tăng cường kiểm tra việc thực hiện các quy định của Nhà nước về an toàn lao động và vệ sinh lao động; việc thực hiện các quy trình , quy phạm, tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn. trên cơ sở đó kịp thời phát hiện và đề ra biện pháp khắc phục các nguy cơ dẫn đến sự cố, tai nạn lao động. Đặc biệt chú ý những lĩnh vực hay xảy ra tai nạn lao động như: xây dựng;xây lắp và sử dụng điện, khai thác khoáng sản (nổ mìn), sử dụng thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động,… - Thông báo tình hình tai nạn lao động chết người năm 1998 cho các cơ sở trực thuộc để rút kinh nghiệm chung.Đối với những ngành, địa phương đã xảy ra nhiều tai nạn lao động chết người năm 1998 cần tổ chức hội nghị rút kinh nghiệm và đề ra các biện pháp cụ thể để phòng ngừa và hạn chế tai nạn lao động có thể xảy ra. - Thực hiện tốt việc khai bao, đăng ký và xin cấp phép sử dụng các đối tượng có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động theo quy định tại thông tư 23/TT-LĐTBXH ngày 8/11/1996 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội.
b. Các cơ quan Lao động-Thương binh và Xã hội - Tập trung thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của Nhà nước về an toàn lao động và vệ sinh lao động; các quy phạm, tiêu chuẩn KTAT đối với các cơ sở thuộc tất cả các thành phần kinh tế đóng trên địa bàn, địa phương,trước hết cần tập trung thanh tra những cơ sở hay xảy ra tai nạn lao động hoặc có nhiều yếu tố nguy hiểm độc hại. Tăng cường thực hiện việc xử phạt các hành vi vị phạm quy định Nhà nước về an toàn lao động theo quy định tại Nghị đinh 28/Cp ngày 25/6/1996 và Thông tư 01/TT-LĐTBXH ngày… - Tăng cường huấn luyện về an toàn lao động, vệ sinh lao động cho người sử dụng lao động. Tập trung huấn luyện về ATLĐ đối với những lĩnh vực hay xảy ra tai nạn lao động như: xây dựng,sử dụng thiết bị điện; khai thác đá, khoáng sản và sử dụng vật liệu nổ; sản xuất , lắp đặt, sử dụng thiết bị chịu áp lực thiết bị nâng, thang máy. - Quản lý chặt chẽ các đối tượng có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động thông qua việc khai bao, đăng ký, cấp giấy phép sử dụng theo quy định tại thông tư 22/TT-TBXH ngày 8/11/1996 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội . - điều tra kịp thời các vụ tai nạn lao động. Khẩn trương tiến hành điều tra, kết luận đối với các vụ tai nạn lao động đã xảy ra trong năm 1998 mà chưa điều tra . Thực hiện tốt các quy định về thống kê, báo cáo tai nạn lao động theo quy định. Những vụ tai nạn lao động đã đề nghị truy tố trước pháp luật cân theo dõi và có biện pháp phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền để xử lý kịp thời. - Phổ biến, hướng dẫn, đôn đốc các doanh nghiệp thực hiện việc điều tra, thống kê, báo cáo tai nạn lao động theo quy định các thông tư số 93/1998/TT\\\\\\\\\\\ngày 26/3/1998 và số 23/LĐTBXH-TT ngày 18/11/1996 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội
c. Các cơ sở sản xuất, kinh doanh,dịch vụ : - Thực hiện nghiêm chỉnh các tiêu chuẩn, quy phạm, quy trình về an toàn lao động . - Tăng cường huấn và huấn luyện lại, cấp thẻ an toàn lao động cho người lao động theo quy định Thông tư 08/TT-LĐTBXH ngày 18/4/1996 và Thông tư 23/TT-LĐTBXH ngày 19/9/1995 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội . Đặc biệt chú trọng những người làm ở các ngành nghề: thợ nổ min, thợ xây dựng, thợ vận hành thiết bị năng, thợ khai thác đá… - Thực hiện đầy đẻ các quy định về khai báo, xin đăng ký cấp phép sử dụng các máy, thiết bị, vật tư và các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động theo quy định tại thông tư 22/TT-LĐTBXH ngày 8/11/1996 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội - Thực hiện đầy đủ các quy định về khai báo, điều tra, thống kê và báo cáo tai nạn lao động theo quy định hiện hành của Nhà nước tại các Thông tư sô 03/1998/TTLT/BLĐTBXH-BYT_TLĐLĐVN ngày 26/3/1998 và số 23/LĐTBXH-TT ngày 18/11/1996 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội ‘ - Bảo đảm cho người lao động đầy đủ các phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động theo quy định của Nhà nước.
4. Các cơ quan pháp luật Nhà nước. Xử lý nghiêm minh các vụ tai nạn lao động nghiêm trọng mà các đoàn điều tra tai nạn lao động đã đề nghị đưa ra truy tố trước pháp luật để giáo dục chung và ngăn chặn tình hình vi phạm các quy định về an toàn lao động theo quy định của Bộ luật lao động ./.
|