Antoanlaodong
Đang tải dữ liệu...

Chào mừng các bạn đến với trang thông tin điện tử An toàn vệ sinh lao đông!
Tìm kiếm
Giới thiệu Cục ATLĐ
Tin tức - Sự kiện
Tình hình tai nạn LĐ
  Tình hình TNLĐ các năm 1995 - 1998
Văn bản pháp luật
Danh mục Tiêu chuẩn
Công ước - Khuyến nghị
Chương trình quốc gia
Hồ sơ quốc gia
Tuần lễ quốc gia
Mạng thông tin ATVSLĐ
Nghiên cứu - Thống kê
Kiến thức - Huấn luyện
Hợp tác quốc tế
Liên hệ - Gửi bài
Web liên kết
Gương tốt ATVSLĐ

Ngày Thế giới về ATVSLĐ - 28/4

Các cơ quan ATVSLĐ quốc tế
Giải thưởng Doanh nghiệp tiêu biểu về ATVSLĐ

Tình hình tai nạn lao động chết người năm 1995

   
09:30' AM - Thứ năm, 25/06/2009

(Ngày 10 tháng 04 năm 1996, Bộ Lao động – Thương binh và xã hội có Thông báo số 1093/LĐTBXH-ATLĐ về tình hình tai nạn lao động chết người năm 1995).

Sau một năm thi hành Bộ Luật lao động, nhiều ngành, địa phương và các doanh nghiệp đã quan tâm hơn đến công tác Bảo hộ lao động nói chung và an toàn lao động nói riêng. Những biểu hiện trì trệ, xem thường luật pháp an toàn- vệ sinh lao động đang được khắc phục và đi dần vào nề nếp; điều kiện làm việc ở một số nơi cũng đã được cải thiện từng bước, việc thực hiện các quy định của Nhà nước về ATLĐ, VSLĐ cũng được tăng cường hơn.

Song nhìn chung, những chuyển biến đó chưa làm cho điều kiện lao động được cải thiện căn bản và đồng bộ, nhất là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Do đó so với năm 1994 tai nạn lao động nói chung và tai nạn lao động chết người nói riêng chưa giảm, tai nạn lao động chết người còn xảy ra nhiều à ở mức độ cao.

Bộ Lao động – Thương binh và xã hội thông báo đến các ngành, các địa phương tình hình tai nạ lao động chết người năm 1995 và một số biệnpháp chính nhằm chủ động ngăn ngừa sự cố và tai nạn lao động trong thời gian tới.

A -TÌNH HÌNH TAI NẠN LAO ĐỘNG CHẾT NGƯỜI NĂM 1995

I.Tình hình TNLĐ ở các địa phương, các ngành

Theo số liệu thống kê, báo cáo chưa đầy đủ của 48/53 địa phương trong năm 1995 đã xảy ra 2127 vụ tai nạn lao động (trong đó có 230 vụ chết người ) làm 264 người chết và 840 người bị thương (chưa kể nhiều trường hợp tai nạn xảy ra trong các cơ sở tư nhân vì chưa tiến hành điều tra, thống kê được). So với năm 1994 tăng 21 vụ chết người và tăng 55 người (năm 1994: 199 vụ chết người- 207 người chết).

Trong 230 vụ tai nạ lao động chêts người có:

- 41 vụ làm chết và bị thương từ 2 người trở nên (62 người chết và 61 người bị thương);

- 64 người chết (Trong tổng số 264 người chết ) là lao động tự do. Đa số là không có ký hợp đồng lao động và không được hiến luyện về ATLĐ;

- 5 vụ xảy ra trong các cơ sở sản xuất hoặc công trình xây dựng có vốn đầu từ của nước ngoài (làm 8 người chết và 2 người bị thương);

Số địa phương trong năm 1995 không có hoặc ít xảy ra tai nạ lao động chết người là: Hà Giang, Cao Bằng, Sóc Trăng, Lạng Sơn, Minh Hải (không có), Hà Tĩnh, Tây Ninh, Phú Yên, Ninh Thuận, Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long, Lâm Đồng (1 vụ-1 vụ chết).

Các địa phương có tỉ lệ tai nạn lao động chết người giảm đánh kể là: Lâm Đồng (giảm 75%); Vĩnh Phú (giảm 50%); và Khánh Hoà(giảm 45%)

Số địa phương có số vụ tai nạn lao động chết người xảy ra nhiều gồm:

1. TP Hồ Chí Minh : 20Vụ – người chết

2. Hà Nội : 17 vụ- 17 người chết (2 vụ xảy ra ở tỉnh khác).

3. Quảng Ninh: 16 vụ – 22 người chết (1 vụ xảy ra đơn vị Quân Đội)

4. Hải Phòng: 15 vụ – 17 người chết

5. Gia Lai: 12 Vụ - 13 người chết

6. Hà Bắc: 10 vụ 10 người chết

7. ….

8. ….

9. Thanh Hoá: 8 vụ – 9 người chết

10. Quảng Trị: 8 vụ 8 người chết

11. Hải Hưng: 7 vụ – 10 người chết

12. Sông Bé: 7 vụ 7 người chết

13. Bình Định: 7 vụ – người chết

14. Lào Cai: 6 vụ -7 người chết

Số địa phương có số vụ tai nạn lao động chết người và số người chết tăng nhiều so với năm 1994 là (…); Quảng Trị (Tăng 84 %); Hải Phòng (tăng 60%); Bình Định (tăng 42%); Thanh Hoá (tăng 38%); Hà Nội (tăng 35 %)

Ở một số ngành để xảy ra nhiều tai nạn lao động chết người và có chiều hương tăng so với năm 1994 gồm:

1. Ngành Giao thông vận tải: 37 vụ – 39 người chết và 3 người bị thương- trong đó có 2 lao động tự do (Năm 1994 : 25 vụ – 25 người chết – 17 người bị thương - 2 vụ ngoài QD);

2. Ngành Xây Dựng: 36 vụ – 39 người chết và 6 người bị thương, có 16 lao động tự do (năm 1994: 33 vụ 33 người chết và 11 người bị thương - 10 vụ có người lao động tự do);

3. Ngành Năng Lượng : 21 cụ 21 người chết và 6 người bị thương, có 3 lao động tự do (năm 1994: 15 vụ – 17 người chết và 1 người bị thương, có 1 vụ ngoài QD);

4. Ngành công nghiệp nặng: 18 vụ – 19 người chết và 10 người bị thương, có 3 lao động tự do (năm 1994: 14 vụ – 17 người chết và 5 người bị thương- 1 vụ ngoài QD);

5. Ngành Lâm Nghiệp: 10 vụ 11 người chết, có 1 lao động tự do:

6. Ngành Nông nghiệp và CNTP: 6 vụ 9 người chết, có 2 lao động tự do.

Ngoài các vụ tai nạn lao động xảy nêu trên, trong năm 1995 đã xảy ra một số vụ tai nạn (không thuộc loại TNLĐ) nhưng đặc biệt nghiêm trọng cần – lưu ý như sau:

1- Ngày 13 / 2 /1995 tại tập thể nhà hát nhân dân thị xã Hà Nam tỉnh Hà Nam đã xảy ra vụ cháy nổ gas khí đốt, khi sang gá từ chai to sang chai nhỏ làm chết tai chỗ 5 ngươi;

2- Vụ tai nạn sập hầm cát xảy ra hồi 17 giờ ngày 22/11/1996 tại khu vực khai thác cát của Đội thi công cơ giới thuộc Công ty đầu tư xây dựng và thương mại (ấp Thanh Bình 3 xã Bình Châu huyện Xuyên Mộc tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu); đã vùi chết 6 cháu nhỏ. Vụ tại nạn này Đoàn điều tra của tỉnh đã đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự những người có lỗi;

3- Vụ sập hệ thống trục cáp dùng làm nôi treo cho trẻ em chơi tại Lâm Viên 19/5 ở tỉnh Minh Hải vào ngày 1 Têt Nguyên Đán (31/1/1995) làm 4 cháu nhỏ chết;

4- Vụ nổ xe ôtô (chở khách cùng với thuốc pháo) của Công ty xe khách tỉnh Lai Châu, xảy ra ngày 23/4/1995 tại km 8 đường Lào Cai – Sơn La làm chết 26 người và 42 người bị thương trong đó có cả trẻ em;

5- Vụ nổ xe (chở vật liệu nổ cùng với người) của đơn vị Công ty xây lắp 711 Binh Đoàn 15- Quân khu 5 hồi 16 giờ 20 phút ngày 13/2/1995 tại thị xã Pleicu tỉnh Gia Lai làm bị thương 46 người và gây hậu quả nghiêm trọng về tài sản của Nhà nước và nhân dân thị xã.

II- Phân tích các vụ tại nạn lao động

1/ Năm 1995, Tai nạn lao động chết người đã xảy ra nhiều ở các lĩnh vực sau:

- Điện giật: 40 vụ – 41 người chết – 9 người bị thương (trong đó có 6 vụ điện cao thế làm chết 6 người và bị thương 3 ngươi)

- Ngã cao: 35 vụ – 35 người chết (trong đó có 3 vụ đổ giàn giáo– chết 3 người)

- Chết đuối : 21 vụ – 24 người chết

- Tai nạn trong sử dụng thiết bị nâng: 15 vụ – 15 người chết

- Đổ công trình cũ, công trình đang xây, đổ giàn giáo: 12 vụ – 17 người chết

- Vật rơi, đè: 11 vụ – 11 người chết – 2 người bị thương

- Máy cuốn, kẹp, dập: 11 vụ – 11 người chết

- Nổ thiết bị chịu áp lực: 9 vụ – 10 người chết

- Tai nạn xảy ra trong khâu khai thác đá: 8 vụ – 8 người chết (trong đó có 3 vụ ngã từ trên núi cao tron khi khai thác đá)

- Sập đất : 5 vụ – 6 người chết – 2 người bị thương

- Tai nạn xảy ta trong kâu sử dụng vật liệu nổ: 4 vụ – 4 người chết – 2 người bị thương

Một số điểm cần lưu ý:

Tai nạn lao động do điện tăng một cách đáng kể (tăng 40 % so với năm 1994) và thương xảy ra trong các khâu: sửa chữa đường giây điện, sửa chữa thiết bị điện: cách điện không đảm bảo (rò điện ra vỏ); đấu nối móc điện tuỳ tiện; xây dựng nhà cửa vi phạm khoảng cách an toàn. Tai nạ lao động do điện chiếm tỉ lệ cao nhất trong các loại tai nạn lao động chết người (chiếm 17.80%).

Trong những năm gần đây do mở rộng và phát triển sản xuất cũng như việc đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam với tốc độ nhanh, tai nạn lao động trong lĩnh vực xây dựng cơ bản (xây dựng các công trình mới, cải tạo nhà ở, nhà máy, khách sạn,…) vẫn xảy ra ở mức độ cao (năm 1995 chiếm 14,78%).

Tai nạn lao động trong khâu khai thác đá và sử dụng vật liệu nổ tuy có giảm so với năm 1994 nhưng vẫn còn ở mức độ cao do chế độ quản lý, sử dụng thuốc nổ thiếu chặt chẽ; người sử dụng thuốc nổ thiếu hiểu biết và không thực hiện đúng quy định của quy phạm kỹ thuật an toàn. Ví dụ nổ vật liệu nổ trên một xe tải của Nhà nước và dân; Nguyên nhân chính do vi phạm nghiêm trọng các quy định ATLD trong vận chuyển vật liệu nổ (vừa chở thuốc vừa chở người).

Tai nạn lao động xảy ra trong khai thác khoáng sản của các đơn vị, cá nhân đã xảy ra nhiều, có nhưng vụ rất nghiêm trọng, xin nêu nên một trong các vụ điển hình: hồi 7 giờ 30 phút ngày 27 /5/1995 đã xảy ra vụ tai nạn cháy khí mêtan trong lò than do chủ tư nhân khai thác tại vỉa 14 khu vực Tây Bắc (Quảng Ninh), thuộc Công ty than Đông Bắc (Bộ Quốc Phòng) quản lý, làm chết 6 người và bị thương 2 người (tháng 11/1995 Toà án quan sự Trung ương đã xử chủ khai thác tư nhân Lê Trung Ấn 7 năm tù giam);

Năm 1995 tai nạn lao động xảy ra nhiều trong khi sử dụng các loại thiết bị nâng (15 vụ-15 người chết) và thiết bị chịu áp lực (9 vụ – 10 người chết và 13 người vị thương); xin nêu một số vụ:

-3 giờ 30 phút ngày 31/10/1995 tại công trình CENTRAL HOTEL HANOI ở 44 B Lý Thường Kiệt Hà Nội do Công ty liên doanh xây dựng VIC thi công, đã xảy ra vụ tai nạn lao động rơi trọng tải của thiết bị nâng làm chết anh Phạm Bình Thuận là kỹ sư máy xây dựng.

- 16 giờ 30 phút ngày 29/7/1995 tại mố Cầu Chư A đường Quốc lộ 19 Pleiku – Gia Lai, một chiếc cẩu bị nghiêng do đất lúc, tải trọng là gầu bê tông chao đảo đã làm cho một công nhan ngã xuống mố cầu và gần bêtông rơi xuống đè chết tại chỗ công nhân Lê Văn Đoài.

-10 giờ ngày 17/11/1995 tại Phòng thí nghiệm của chi nhánh Hà Nội Trung tâm nghiên cứu và phát triển chế biến dầu khí thuộc Công ty dầu khí Việt Nam sau khi mở van chai khí Hyđro thì chai bị nổ làm chết Phó tiến sĩ Huỳnh Mạnh Hoàn và cán bộ nghiên cứu khác bị thương do sức ép (trong đó có một chuyên gia người Mỹ).

- 8 giờ 30 phút ngày 9/12/1995 thiết bị sấy của trạm nạp khí Axetylen ở Xí nghiệp dịch vụ sản xuất và đồng bộ – LD dầu khí Việt Xô, Thành phố Vũng Tàu đã phát nổ và cháy làm chêt một công nhân vận hành.

So với năm 1994 tai nạn lao động do chết đuối tăng nhiều (1995:21 vụ- chết 24 người ; năm 1994: 10 vụ – 10 người chết), nguyên nhân chủ ếu do thiếu biện pháp an toàn khi làm việc; những người làm việc trên sông nước chưa được huấn luyện vể ATLĐ, đặc biệt có một số vụ do người lao động uống rượu trong quá trình làm việc.

So với năm 1994 tai nạn lao động do vật rơi, đè giảm (1995:11 vụ – 11 người chết; năm 1994 13 vụ – 13 người chết) nhưng vẫn xảy ra ở nức độ cao.

Tình hình tai nạn lao động trong khu vực sản xuất nông nghiệp chưa được theo dõi thống kê chưa đầy đủ nhưng qua nắm tình hình cho thấy có nhiều nguy cơ xảy ra tai nạn lao động và còn một só tồn tại như:

- Thiết bị điện hầu hết chưa được nối đất, thiếu thiết bị bảo vệ.

- Việc quản lý. Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật còn nhiều tuỳ tiện, chưa đúng theo quy định về an toàn lao động; thủ kho và người sử dngj thuốc chưa được huấn luyện để nắm vững các biện pháp phòng độc; nhà kho không đảm bảo các điều kiện an toàn phòng độc.

III- Về sử lý an toàn lao động:

Trong năm 1995 một số địa phương đã đề nghị đưa ra xem xét xử trước pháp luật 9 vụ TNLĐ chết người có tính chất nghiệm trong sau đây;

1- Vụ tai nạn Lao động xảy ra ở Công ty than Đông Bắc Quốc phòng ngày 27/5/1995 (xử 7 năm tù giam);

2- Cụ TNLĐ đổ tường mới xây xảy ra ở nhà máy giày da Việt Vinh Đồng nai ngày 16/7/1995 làm chết 4 người;

3- Vụ tai nạn sập đất xảy ra ngày 10/3/1995 ở lô đất MK18 khu Bàu cát Phường 13 Quận Tân Bình- thành phố . Hồ Chí Minh chết 2 người;

4- Vụ nổ chai Ôxy tại phường 19 quận Tân Bình – thành phố Hồ Chí Minh ngày 15/6/1995 làm chết một người và thiệt hại hai căn nhà;

5- Vụ điện giật chết 1 người xỷ ra ngày 16/7/1995 tại tổ sản xuất cồn Thành Công P19 Quận Tân Bình ;

6- Vụ rơi tải trọng của thiết bị nâng tại công ty xây dựng Ngân Hà Hà Tây ngày 12/11/1995 đã chết 1 người;

7- Vụ lật xe móc ngày 17/4/1995 tại Nông trường cao su Quảng Trị làm chết 1 người và bị thương 3người (ngày 20/1/1996 Cơ quan cảnh sát điều tra tỉnh Quảng Trị đã ra quyết định không khởi tố vụ này);

8- Vụ máy xúc cán chết 2 người xảy ra ngày 13/2/1995 tại Công trường khai thác cát (Hải Hưng) của Công ty xây dựng thuỷ lợi 1 – Độ Thuỷ lợi;

9- Vụ tai nạn lao động do đá từ vách taluy hầm xả lũ công trình xây dựng nhà máy thuỷ điện YALY Gia Lai lăn xuồng đề chết 1 công nhân.

C. MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỦ YẾU CẦN ĐƯỢC THỰC HIỆN TỐT TRONG NĂM 1996

Qua phân tích tình hình tai nạn lao động năm 1995, nhằm hạn chế các sự cố, tai nạn lao động, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội dề nghị các Ngành địa phương lưu ý thực hiện một số biện pháp chủ yếu sau:

1- Tăng cường việc tuyên truyềnn, phổ biến Bộ Luật lao động, các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ Luật và cac quy phạm, tiêu chuẩn kỹ thuệt an toàn đến người sử dụng lao động và người lao động thuộc những ngành nghề hay xảy ra tai nạn như: điện, xây dựng, sử dụng thiết bị chịu áp lực, thiết bị năng, khai thác đã và sử dụng vật liệu nổ…

Cần quan tâm huấn luyện, hướng dãn về an toàn lao động đối với các đối tượng lao động tự do trước khi giao việc.

2- Tăng cường thanh tra toàn diện thực hiện luật pháp, chính sách, quy phạm và tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn ở tất cả các thành phần kinh tế, ngành nghề; trong đó cần lưu ý các lĩnh vực xây dựng, khai thác khoáng sản, các cơ sở chế tạo, sử dụng các đối tượng có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn. Kiên quyết xử lý các vi phạm khi thanh tra phát hiện.

3- Thực hiện nghiêm chế độ khai báo, điều tra, thống kê và báo cáo tai nạn lao động, điều tra, thống kê và báo cáo tai nạn lao động, điều tra đầy đủ và đúng thời hạn.

4- Bảo đảm chât lượng điều tra tai nạn lao động: xác định nguyên nhân và biện pháp phòng ngừa tai nạn lao động tái diễn (đặc biệt trong điều tra tai nạn lao động chết người) phải rõ ràng, chính xác . Những vụ tai nạn lao động chết người nghiêm trọng xét thấy có yếu tố truy cứu trách nhiệm hình sự phải phối hợp tốt với cơ quan điều tra hình sự và Viện Kiểm sát nhân dân, kiên quyết đưa ra xét xử để giáo dục và ngăn ngừa tình trạng vi phạm các quy định về an toàn của Bộ lao động ./.

Hình ảnh ATVSLĐ

Tài liệu - Ấn phẩm

Thông tin bổ trợ

 Trang chủ | Giới Thiệu | Hoạt động - Chương trình | Tư liệu | Sitemap | Liên hệ