Antoanlaodong
Đang tải dữ liệu...

Chào mừng các bạn đến với trang thông tin điện tử An toàn vệ sinh lao đông!
Tìm kiếm
Giới thiệu Cục ATLĐ
Tin tức - Sự kiện
Tình hình tai nạn LĐ
  Tình hình TNLĐ các năm 1995 - 1998
Văn bản pháp luật
Danh mục Tiêu chuẩn
Công ước - Khuyến nghị
Chương trình quốc gia
Hồ sơ quốc gia
Tuần lễ quốc gia
Mạng thông tin ATVSLĐ
Nghiên cứu - Thống kê
Kiến thức - Huấn luyện
Hợp tác quốc tế
Liên hệ - Gửi bài
Web liên kết
Gương tốt ATVSLĐ

Ngày Thế giới về ATVSLĐ - 28/4

Các cơ quan ATVSLĐ quốc tế
Giải thưởng Doanh nghiệp tiêu biểu về ATVSLĐ

Thông báo tình hình tai nạn lao động năm 2008

   
11:02' AM - Thứ tư, 04/03/2009

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thông báo đến các ngành, các địa phương tình hình tai nạn lao động trong năm 2008 và một số giải pháp chủ yếu nhằm chủ động ngăn ngừa sự cố và tai nạn lao động trong năm 2009 như sau:
A. TÌNH HÌNH CHUNG
I. Số vụ tai nạn lao động (TNLĐ)
Theo báo cáo của 63 Sở Lao động-Thương binh và Xã hội, trong năm 2008 đã xảy ra 5836 vụ tai nạn lao động (TNLĐ) làm 6.047 người bị nạn, có 508 vụ TNLĐ chết người làm 573 người chết, 1.262 người bị thương nặng. Có 129 vụ có từ 2 người bị nạn trở lên, đặc biệt là vụ nổ khí metan tại mỏ than Khe Chàm ngày 08/12/2008 làm 11 người chết và 22 người bị thương nặng, vụ sập giàn cẩu tại Cảng Cái Lân ngày 15/07/2008 làm 7 người chết, 1 người bị thương nặng.
II. Tình hình TNLĐ ở các địa phương
1. Mười địa phương xảy ra nhiều vụ tai nạn lao động chết người trong năm 2008
- Thành phố Hồ Chí Minh: Xảy ra 361 vụ TNLĐ, trong đó có 87 vụ chết người. Số người bị nạn là 380 người, trong đó có 88 người chết và 36 người bị thương nặng;
- Quảng Ninh: Xảy ra 350 vụ TNLĐ, trong đó có 31 vụ chết người và 36 vụ tai nạn có từ 2 người bị nạn trở lên. Số người bị nạn là 418 người, trong đó có 41 người chết và 210 người bị thương nặng;
- Đồng Nai: Xảy ra 1699 vụ TNLĐ, trong đó có 28 vụ chết người. Số người bị nạn là 1703 người, trong đó có 31 người chết và 92 người bị thương nặng;
- Bình Dương: Xảy ra 746 vụ TNLĐ, trong đó có 26 vụ chết người. Số người bị nạn là 756 người, trong đó có 26 người chết và 37 người bị thương nặng;
- Hà Nội: Xảy ra 116 vụ TNLĐ, trong đó có 20 vụ chết người. Số người bị nạn là 126 người, trong đó có 25 người chết và 101 người bị thương nặng;
- Long An: Xảy ra 24 vụ TNLĐ, trong đó có 20 vụ chết người. Số người bị nạn là 34 người, trong đó có 25 người chết và 7 người bị thương nặng;
- Bà Rịa – Vũng Tàu: Xảy ra 62 vụ TNLĐ, trong đó có 18 vụ chết người. Số người bị nạn là 64 người, trong đó có 20 người chết và 26 người bị thương nặng;
- Hải Phòng: Xảy ra 162 vụ TNLĐ, trong đó có 12 vụ chết người. Số người bị nạn là 170 người, trong đó có 18 người chết và 26 người bị thương nặng;
- Hải Dương: Xảy ra 28 vụ TNLĐ, trong đó có 16 vụ chết người. Số người bị nạn là 29 người, trong đó có 16 người chết và 13 người bị thương nặng;
- Bình Thuận: Xảy ra 45 vụ TNLĐ, trong đó có 14 vụ chết người. Số người bị nạn là 45 người, trong đó có 14 người chết và 9 người bị thương nặng.
Các địa phương trên có tổng số người chết vì tai nạn lao động chiếm 53,05% tổng số người chết vì tai nạn lao động trên toàn quốc.
2. Một số địa phương có số vụ tai nạn lao động chết người tăng cao so với năm 2007 là Hải Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Thuận.
B. PHÂN TÍCH CÁC VỤ TAI NẠN LAO ĐỘNG

Tình hình khai báo, điều tra các vụ tai nạn lao động hiện nay vẫn chậm so với quy định. Theo báo cáo của 63 Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thì năm 2008 toàn quốc xảy ra 508 vụ tai nạn lao động chết người, nhưng đến 01 tháng 02 năm 2009, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội mới nhận được 181 biên bản điều tra. Phân tích từ 181 biên bản điều tra tai nạn lao động chết người, có một số đánh giá như sau:
I. Tình hình tai nạn lao động chết người theo loại hình cơ sở sản xuất
- Loại hình Công ty cổ phần vốn Nhà nước (vốn NN> 51%) chiếm 22,72% tổng số vụ tai nạn và 22,17% tổng số người chết;
- Loại hình Công ty TNHH, Công ty cổ phần khác, vốn trong nước tư nhân chiếm 40,90% tổng số vụ tai nạn và 38,68% tổng số người chết;
- Loại hình Doanh nghiệp nhà nước chiếm 11,36% tổng số vụ tai nạn và 13,20% tổng số người chết;
- Loại hình Doanh nghiệp tư nhân chiếm 7,39% tổng số vụ tai nạn và 6,60% tổng số người chết;
II. Những lĩnh vực sản xuất xảy ra nhiều tai nạn lao động chết người
- Lĩnh vực xây lắp các công trình dân dụng, công nghiệp và công trình giao thông chiếm 29,54% tổng số vụ tai nạn và 29,72% tổng số người chết;
- Lĩnh vực khai thác khoáng sản chiếm 8,52% tổng số vụ và 12,73% tổng số người chết;
- Lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng chiếm 7,59% tổng số vụ và 10,37% tổng số người chết;
- Lĩnh vực cơ khí chế tạo chiếm 5,11% tổng số vụ và 4,24% tổng số người chết.
III. Các loại yếu tố, thiết bị gây nhiều tai nạn lao động chết người
- Liên quan đến giàn giáo, sàn thao tác chiếm 9,39% tổng số vụ và 8,02% tổng số người chết;
- Liên quan đến máy trục, cầu trục, cổng trục chiếm 5,52% tổng số vụ và 7,55% tổng số người chết;
- Liên quan đến máy hàn điện chiếm 3,31% tổng số vụ và 4,72% tổng số người chết;
- Liên quan đến phương tiện vận tải thuỷ chiếm 4,97% tổng số vụ và 4,25% tổng số người chết.
IV. Các yếu tố chấn thương chủ yếu làm chết người nhiều nhất
- Điện giật chiếm 26,70% tổng số vụ và 22,64% tổng số người chết;
- Ngã từ trên cao chiếm 17,61% tổng số vụ và 19,81% tổng số người chết;
- Máy, thiết bị cán, kẹp, cuốn chiếm 5,68% tổng số vụ và 4,72% tổng số người chết;
- Riêng lĩnh vực khai thác đá năm 2008 theo thống kê có 7 vụ sạt lở đá làm chết 14 người, 12 người bị thương nặng.
V. Các nguyên nhân chủ yếu để xảy ra tai nạn lao động chết người
- Nguyên nhân do người sử dụng lao động chiếm 20,02% và do người lao động chiếm 34,93% tổng số vụ, cụ thể là:
- Người sử dụng lao động vi phạm Tiêu chuẩn, Quy chuẩn kỹ thuật, Quy phạm an toàn chiếm 5,60% tổng số vụ;
- Người sử dụng lao động không xây dựng quy trình, biện pháp làm việc an toàn chiếm 2,66% tổng số vụ;
- Chưa huấn luyện an toàn lao động cho người lao động, không có phương tiện bảo vệ cá nhân chiếm 7,77% tổng số vụ;
- Thiết bị không đảm bảo an toàn lao động chiếm 2,78% tổng số vụ; không có thiết bị an toàn chiếm 1,21% tổng số vụ;
- Người lao động vi phạm quy trình quy phạm an toàn lao động chiếm 30,38% tổng số vụ;
- Người lao động không sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân chiếm 4,55% tổng số vụ.
Còn lại 45,05% là những vụ tai nạn lao động xảy ra không xác định được nguyên nhân.
VI. Xử lý trách nhiệm đối với vụ tai nạn lao động
Trong tổng số 181 vụ tai nạn lao động mà Bộ Lao động–Thương binh và Xã hội đã nhận được biên bản điều tra năm 2008, có 2 vụ được chuyển hồ sơ sang Viện kiểm sát để đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự và khởi tố các cá nhân có liên quan. Ngoài ra, một số vụ tai nạn lao động đặc biệt nghiêm trọng làm chết nhiều người trong năm 2008 chưa điều tra xong nên chưa có hình thức xử lý.
C. ĐÁNH GIÁ CHUNG
1. So với năm 2007: Năm 2008 số vụ TNLĐ giảm 115 vụ (giảm 1,93%), tổng số nạn nhân giảm 290 người (giảm 4,57%), số vụ TNLĐ chết người tăng 03 vụ và số người chết giảm 48 người (giảm 7,73%, năm 2007 xảy ra 505 vụ TNLĐ chết người làm 621 người chết);
2. Tình hình điều tra tai nạn lao động
Nhìn chung các vụ tai nạn lao động đã được điều tra đúng quy định tại Thông tư liên tịch số 14/2005/TTLT-BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN ngày 08/3/2005 của Liên tịch Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội – Bộ Y tế – Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Tuy nhiên nhiều địa phương còn chậm gửi biên bản điều tra về Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, số biên bản nhận được chỉ chiếm 35,6% tổng số vụ TNLĐ chết người. Nhiều vụ TNLĐ (45,05% tổng số vụ TNLĐ) Đoàn điều tra không xác định được nguyên nhân. Sự phối hợp chưa tốt trong việc giải quyết các vụ tai nạn lao động chết người theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/2007/TTLT/BLĐTBXH-BCA-VKSNDTC ngày 12/01/2007 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Công an và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, do vậy tiến độ điều tra các vụ TNLĐ chết người vẫn còn rất chậm so với quy định. Còn nhiều vụ tai nạn xảy ra trong khai thác khoáng sản của tư nhân, trong các công trình xây dựng nhà ở của dân chưa được tiến hành điều tra, thống kê và báo cáo.
Trong năm 2008, một số địa phương đã tiến hành điều tra tai nạn lao động và báo cáo về Bộ khẩn trương, kịp thời như: Quảng Ninh, Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh. Quảng Ninh là tỉnh duy nhất chấp hành nghiêm chỉnh chế độ báo cáo nhanh các vụ tai nạn lao động chết người về Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.
3. Chất lượng báo cáo tai nạn lao động năm 2008
Nhiều địa phương đã thực hiện tốt việc báo cáo tình hình tai nạn lao động theo đúng mẫu và thời gian quy định tại Thông tư liên tịch số 14/2005/TTLT-BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN ngày 08/3/2005 của Liên tịch Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội – Bộ Y tế – Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Tuy nhiên vẫn còn một số địa phương báo cáo không đúng mẫu, báo cáo số liệu không khớp giữa các cột mục hoặc chỉ báo cáo tổng số mà không phân tích theo các yếu tố theo biểu mẫu quy định. Nhiều địa phương không có “Báo cáo TNLĐ theo loại hình doanh nghiệp, nghề nghiệp” hoặc số liệu báo cáo không đầy đủ, không phù hợp (chỉ 50% báo cáo TNLĐ theo loại hình doanh nghiệp của các địa phương gửi về có thể thống kê phân tích). Đặc biệt tỷ lệ báo cáo của các doanh nghiệp về Sở Lao động – Thương binh và Xã hội địa phương vẫn rất thấp, chỉ có khoảng 6,34% số doanh nghiệp báo cáo (năm 2007 là 4,5%), do vậy đã gây khó khăn trong việc tổng hợp, đánh giá tình hình tai nạn lao động toàn quốc. Các Sở Lao động – Thương binh và Xã hội địa phương gửi báo cáo về Bộ cũng rất chậm.
Để khắc phục tình trạng báo cáo của các doanh nghiệp nêu trên, đề nghị Thanh tra Sở Lao động–Thương binh và Xã hội các địa phương kiên quyết xử phạt các doanh nghiệp không báo cáo định kỳ về tai nạn lao động theo quy định tại Nghị định số 113/2004/NĐ-CP ngày 16/4/2004 của Chính phủ.
4. Thiệt hại về vật chất
Theo số liệu báo cáo của các địa phương, thiệt hại về vật chất do tai nạn lao động xảy ra trong năm 2008 (chi phí tiền thuốc men, mai táng, tiền bồi thường cho gia đình người chết và những người bị thương,...) là 194,0 tỷ đồng, thiệt hại về tài sản là 3,5 tỷ đồng. Tổng số ngày nghỉ do tai nạn lao động lên đến 197.480 ngày.
D. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU CẦN THỰC HIỆN NĂM 2009
Căn cứ vào tình hình và nguyên nhân xảy ra tai nạn lao động trong năm 2008, để chủ động phòng ngừa và hạn chế tai nạn lao động trong thời gian tới, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đề nghị các Bộ, ngành, địa phương và các doanh nghiệp thực hiện tốt các giải pháp chủ yếu sau đây:
1. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của Nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động ở tất cả các cơ sở thuộc các thành phần kinh tế. Cần tập trung vào các lĩnh vực xây dựng, nhất là tại các công trình xây dựng nhỏ, công trình trọng điểm sử dụng nhiều lao động thời vụ; lắp đặt, sửa chữa điện; khai thác khoáng sản và khai thác đá; sử dụng các thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động; các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Kiên quyết xử lý nghiêm minh, kịp thời đối với các hành vi vi phạm luật pháp lao động theo quy định tại Nghị định số 113/2004/NĐ-CP ngày 16/4/2004 của Chính phủ;
2. Các Bộ, ngành, tập đoàn, tổng công ty tăng cường kiểm tra và chỉ đạo các đơn vị thuộc quyền quản lý của mình thực hiện đầy đủ các quy định của Nhà nước về an toàn lao động, vệ sinh lao động và quy định về bảo hộ lao động. Tổ chức huấn luyện về an toàn lao động cho người sử dụng lao động theo quy định tại Thông tư số 37/2005/TT-BLĐTBXH ngày 29/12/2005 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội. Xác định rõ các nguyên nhân gây ra tai nạn lao động để phổ biến rút kinh nghiệm trong toàn ngành, tập đoàn, tổng công ty, đồng thời đề ra các biện pháp cần thiết để ngăn chặn và đẩy lùi tai nạn lao động. Kiểm điểm, xử lý nghiêm khắc các đơn vị, cá nhân để xảy ra tai nạn lao động;
3. Người sử dụng lao động phải thường xuyên đánh giá rủi ro liên quan đến môi trường làm việc, công cụ máy móc, thiết bị, các chất và tác nhân hóa học, vật lý và sinh học để đưa ra các biện pháp phòng ngừa, loại bỏ các nguy cơ tại nơi làm việc, cải thiện điều kiện làm việc để đảm bảo cho người lao động được làm việc trong môi trường an toàn; là công việc không thể tách rời trong các hoạt động kinh doanh, sản xuất của mình. Xây dựng và rà soát các quy trình, biện pháp làm việc an toàn, vệ sinh lao động theo hướng dẫn tại các Tiêu chuẩn, Quy chuẩn kỹ thuật an toàn lao động và hướng dẫn cho người lao động trước khi làm việc. Tổ chức huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động đầy đủ cho người lao động theo quy định và tuyên truyền, giáo dục cho người lao động tự giác chấp hành các quy định về an toàn, vệ sinh lao động, tạo điều kiện cho người lao động được tham gia vào tất cả các giải pháp cải thiện điều kiện lao động. Đặc biệt chú ý đối với những người lao động làm các công việc nặng nhọc, nguy hiểm, độc hại hoặc tiếp xúc với những đối tượng có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, vệ sinh lao động;
4. Thanh tra lao động các địa phương tăng cường thanh tra, kiểm tra chuyên đề về công tác thống kê, báo cáo cũng như kiên quyết xử lý các hành vi không khai báo, không thống kê báo cáo định kỳ về tai nạn lao động ;
5. Phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền để tiến hành điều tra kịp thời, chính xác các nguyên nhân gây ra tai nạn lao động chết người trong các thành phần kinh tế, chú ý các doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy trình sản xuất lạc hậu; sử dụng các hoá chất độc hại, ảnh hưởng môi trường nhưng thiếu ý thức phòng ngừa tai nạn lao động;
6. Xử lý nghiêm những tập thể, cá nhân thiếu tinh thần trách nhiệm, vi phạm các quy định về an toàn, vệ sinh lao động và kiên quyết đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự các cá nhân liên quan nếu có những vi phạm pháp luật lao động để xảy ra tai nạn lao động chết người nghiêm trọng;
7. Tăng cường công tác tuyên truyền pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động nhằm nâng cao trách nhiệm đối với các đơn vị, cơ sở sản xuất kinh doanh và người lao động để mọi người đều có ý thức cảnh giác và phòng ngừa tai nạn lao động./.

Hình ảnh ATVSLĐ

Tài liệu - Ấn phẩm

Thông tin bổ trợ

 Trang chủ | Giới Thiệu | Hoạt động - Chương trình | Tư liệu | Sitemap | Liên hệ