Antoanlaodong
Đang tải dữ liệu...

Chào mừng các bạn đến với trang thông tin điện tử An toàn vệ sinh lao đông!
Tìm kiếm
Giới thiệu Cục ATLĐ
Tin tức - Sự kiện
Tình hình tai nạn LĐ
  Tình hình TNLĐ các năm
Văn bản pháp luật
Danh mục Tiêu chuẩn
Công ước - Khuyến nghị
Chương trình quốc gia
Hồ sơ quốc gia
Tuần lễ quốc gia
Mạng thông tin ATVSLĐ
Nghiên cứu - Thống kê
Kiến thức - Huấn luyện
Hợp tác quốc tế
Liên hệ - Gửi bài
Giải thưởng Doanh nghiệp tiêu biểu về ATVSLĐ
Hoạt động ATVSLĐ do ILO - WHO hỗ trợ
Web liên kết
Gương tốt ATVSLĐ

Ngày Thế giới về ATVSLĐ - 28/4

Các cơ quan ATVSLĐ quốc tế
Giải thưởng Doanh nghiệp tiêu biểu về ATVSLĐ

Thông báo tình hình tai nạn lao động 6 tháng đầu năm 2008

Bộ LĐTBXH   
10:02' AM - Thứ sáu, 08/08/2008

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thông báo đến các ngành, các địa phương tình hình tai nạn lao động trong 6 tháng đầu năm 2008 và một số giải pháp chủ yếu nhằm chủ động ngăn ngừa sự cố và tai nạn lao động trong 6 tháng cuối năm 2008 như sau:

A. TÌNH HÌNH CHUNG

I. Số vụ tai nạn lao động (TNLĐ)

Theo báo cáo của 64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong 6 tháng đầu năm 2008 đã xảy ra 2.497 vụ tai nạn lao động làm 2.574 người bị nạn, có 250 vụ TNLĐ chết người làm 266 người chết, 546 người bị thương nặng.

II. Tình hình TNLĐ ở các địa phương.

Các địa phương xảy ra nhiều tai nạn lao động chết người trong 6 tháng đầu năm là:

- Thành phố Hồ Chí Minh: 172 vụ làm 187 người bị nạn, trong đó có 35 vụ chết người, làm 35 người chết (chiếm 13,16% tổng số người chết), 34 người bị thương nặng;

- Long An: 48 vụ làm 56 người bị nạn, trong đó có 20 vụ chết người làm 20 người chết (chiếm 7,52% tổng số người chết), 5 người bị thương nặng;

- Bình Dương: 292 vụ làm 292 người bị nạn, trong đó có 14 vụ chết người làm 14 người chết (chiếm 5,26% tổng số người chết), 21 người bị thương nặng;

- Quảng Ninh: 199 vụ làm 203 người bị nạn, trong đó có 13 vụ chết người làm 14 người chết (chiếm 4,89% tổng số người chết), 93 người bị thương nặng, có 3 vụ tai nạn có từ 2 người bị nạn trở lên;

- Đồng Nai: 942 vụ làm 943 người bị nạn, trong đó có 11 vụ chết người, làm 11 người chết (chiếm 4,13% tổng số người chết), 54 người bị thương nặng;

- Kiên Giang: 10 vụ làm 22 người bị nạn, trong đó có 4 vụ chết người, làm 10 người chết (chiếm 3,76% tổng số người chết), 2 người bị thương nặng; có 3 vụ tai nạn có từ 2 người bị nạn trở lên;

- Hà Nội: 59 vụ làm 60 người bị nạn, trong đó có 8 vụ chết người, làm 8 người chết (chiếm 3,00% tổng số người chết), 17 người bị thương nặng;

- Đà Nẵng: 12 vụ làm 12 người bị nạn, trong đó có 8 vụ chết người làm 8 người chết (chiếm 3,00% tổng số người chết), 4 người bị thương nặng;

- Khánh Hoà: 53 vụ làm 54 người bị nạn, trong đó có 7 vụ chết người làm 7 người chết (chiếm 2,63% tổng số người chết), 7 người bị thương nặng;

- Bà Rịa – Vũng Tàu: 22 vụ làm 23 người bị nạn, trong đó có 7 vụ chết người làm 7 người chết (chiếm 2,63% tổng số người chết), 12 người bị thương nặng.

B. PHÂN TÍCH CÁC VỤ TAI NẠN LAO ĐỘNG.

I. Đánh giá chung

1. Trong 6 tháng đầu năm 2008 số vụ TNLĐ giảm 499 vụ (giảm 16,65%), tổng số nạn nhân giảm 483 người (giảm 15,80%) so với 6 tháng đầu năm 2007 nhưng số vụ TNLĐ chết người tăng 53 vụ và số người chết tăng 42 người (tăng 18,75%, 6 tháng đầu năm 2007 xảy ra 197 vụ TNLĐ chết người làm 224 người chết);

2. Những địa phương có tai nạn lao động chết người vẫn ở mức cao trong 6 tháng đầu năm 2008: Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Quảng Ninh;

3. Những địa phương mới xuất hiện nhiều tai nạn lao động chết người: Đồng Tháp, Bình Định;

4. Một số địa phương có số vụ tai nạn lao động chết người tăng cao so với cùng kỳ năm ngoái: Long An 20 vụ (cùng kỳ năm ngoái xảy ra 7 vụ); Đồng Tháp 7 vụ (cùng kỳ năm ngoái xảy ra 1 vụ), Bà Rịa – Vũng Tàu 7 vụ (cùng kỳ năm ngoái xảy ra 2 vụ), Bình Định 7 vụ (cùng kỳ năm ngoái xảy ra 1 vụ), An Giang 6 vụ (cùng kỳ năm ngoái không xảy ra TNLĐ chết người);

5. Những địa phương không xảy ra tai nạn lao động chết người trong 6 tháng đầu năm 2008: Hà Giang, Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Lai Châu, Điện Biên, Trà Vinh, Hậu Giang;

6. Những địa phương có số vụ tai nạn lao động chết người giảm so với 6 tháng đầu năm 2007: Đà Nẵng (giảm 60% số người chết), Hải Phòng (giảm 66.67% số người chết), Quảng Ninh (giảm 53.33% số người chết), Hà Nội (giảm 37,5% số người chết).

II. Nguyên nhân xảy ra các vụ TNLĐ

1. Về phía người sử dụng lao động

- Không huấn luyện về an toàn lao động cho người lao động: 195 vụ (chiếm 7,94% tổng số vụ);

- Thiết bị không đảm bảo an toàn, nhiều máy, thiết bị, công cụ sản xuất không đảm bảo an toàn vẫn đưa vào sử dụng: 81 vụ (chiếm 3,30% tổng số vụ);

- Không có thiết bị an toàn : 65 vụ (chiếm 2,65% tổng số vụ);

- Không có quy trình, biện pháp an toàn lao động: 58 vụ (chiếm 2,36% tổng số vụ);

- Không đảm bảo điều kiện làm việc và môi trường làm việc an toàn cho người lao động theo quy định tại các tiêu chuẩn: 39 vụ (chiếm 1,59% tổng số vụ);

- Do tổ chức lao động (bố trí lao động làm việc không có tay nghề hoặc chưa phù hợp với ngành nghề chuyên môn được đào tạo): 29 vụ (chiếm 1,18% tổng số vụ);

- Không trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động: 24 vụ (chiếm 0,97% tổng số vụ);

- Do yếu tố khách quan, khó tránh: 452 vụ (chiếm 18,41% tổng số vụ);

- Nguyên nhân khác 486 vụ chiếm 19,81%: Do không thường xuyên kiểm tra nhắc nhở người lao động tuân thủ các quy định của Nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động; không thực hiện đúng các quy định tại Thông tư liên tịch số 14/1998/TTLT-BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN ngày 31/10/1998 của Liên tịch Bộ Lao động Thương binh và Xã hội – Bộ Y tế – Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam hướng dẫn việc tổ chức thực hiện công tác bảo hộ lao động trong doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh…

2. Về phía người lao động

- Có 825 vụ do người lao động vi phạm các quy định về an toàn lao động (chiếm 33,60 % tổng số vụ). Nhiều người lao động xuất phát từ các vùng nông thôn đi làm thuê không được đào tạo cơ bản qua trường lớp, khi vào làm việc lại chỉ được hướng dẫn về các thao tác trong công việc nên không hiểu biết luật pháp an toàn lao động, không biết các mối nguy hiểm cần phải đề phòng trong môi trường lao động của mình…;

- Có 133 vụ (chiếm 5,42% tổng số vụ) do không sử dụng các trang bị, phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động mặc dù đã được người sử dụng lao động cấp phát đủ và hướng dẫn cách sử dụng.

- Có 68 vụ (chiếm 2,77% tổng số vụ) do người khác vi phạm quy định về an toàn lao động. Một số người lao động mặc dù đã được đào tạo cơ bản, được huấn luyện kỹ về an toàn lao động nhưng do chủ quan, chạy theo năng suất, ý thức chấp hành kỷ luật kém… nên đã gây ra những TNLĐ đáng tiếc cho bản thân và những người làm việc xung quanh;

3. Về phía các cơ quan quản lý Nhà nước

- Công tác thanh tra của Thanh tra Nhà nước về lao động chưa thường xuyên, thiếu nhạy bén dẫn đến việc thực hiện công tác bảo hộ lao động ở doanh nghiệp chưa tốt;

- Số cuộc thanh tra, kiểm tra về thực hiện pháp luật lao động tại các doanh nghiệp còn ít, hiệu quả chưa cao. Số lượng, chất lượng thanh tra viên chưa tương xứng với tốc độ phát triển của các doanh nghiệp cả về số lượng lẫn quy mô sản xuất, kinh doanh. Nhiều địa phương do thiếu thanh tra viên lao động nên hầu hết chỉ tổ chức các cuộc kiểm tra liên ngành, số cuộc thanh tra lao động còn rất ít. Do đó không kịp thời phát hiện những vi phạm pháp luật Lao động, dẫn đến nhiều vụ TNLĐ nghiêm trọng đã xảy ra;

- Một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chưa được các cơ quan quản lý Nhà nước thanh, kiểm tra, hướng dẫn thường xuyên, kịp thời nên tình trạng vi phạm các quy định của pháp luật, các Tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật an toàn lao động còn phổ biến đặc biệt tại các doanh nghiệp tư nhân; lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp; các hộ kinh doanh cá thể, các làng nghề;

- Việc xử lý các vụ TNLĐ chết người đặc biệt nghiêm trọng chưa nghiêm: 6 tháng đầu năm 2008 Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội nhận được 69 biên bản điều tra hoặc báo cáo nhanh tai nạn lao động chết người của các địa phương trong đó chỉ có 1 trường hợp TNLĐ nghiêm trọng bị đề nghị truy tố trách nhiệm hình sự (vụ TNLĐ sập lò gạch xảy ra tại cơ sở sản xuất gạch của Ông Nguyễn Văn Đủ, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây). Việc xử lý hành chính theo thẩm quyền đối với những người vi phạm để xảy ra TNLĐ nghiêm trọng cũng chưa nghiêm, chưa kịp thời;

- Một số vụ xác định nguyên nhân gây tai nạn chưa chính xác nên chưa đưa ra được các biện pháp phù hợp để phòng ngừa TNLĐ tái diễn.

III. Thiệt hại về vật chất

Theo số liệu báo cáo chưa đầy đủ của các địa phương, thiệt hại về vật chất do tai nạn lao động xảy ra trong 6 tháng đầu năm 2008 (chi phí tiền thuốc men, mai táng, tiền bồi thường cho gia đình người chết và những người bị thương, …) là 12.625.000.000đ, thiệt hại về tài sản là 659.300.000đ, tổng số ngày nghỉ (kể cả nghỉ chế độ) do TNLĐ lên đến 27.152 ngày.

IV. Một số vụ tai nạn lao động nghiêm trọng xảy ra trong 6 tháng đầu năm 2008

- Vụ tai nạn lao động tại cơ sở khai thác đá Núi Bèo tỉnh Hà Nam ngày 06/1/2008 làm 3 người chết.

- Vụ tai nạn sập lò gạch tại cơ sở sản xuất gạch của ông Nguyễn Văn Đủ tại huyện Phú Xuyên tỉnh Hà Tây ngày 07/1/2008 làm 6 người chết và 4 người bị thương.

- Vụ tai nạn sập mỏ đá Lèn Nậy huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An ngày 12/1/2008 làm 3 người chết, 7 người bị thương…

Nguyên nhân chủ yếu của các vụ tai nạn lao động nghiêm trọng trên là do vi phạm quy trình, biện pháp làm việc an toàn.

V. Tình hình điều tra và thống kê báo cáo tai nạn lao động

1. Điều tra.

Nhìn chung các vụ TNLĐ đã được điều tra đúng quy định tại Thông tư liên tịch số 14/2005/TTLT-BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN ngày 08/3/2005 của Liên tịch Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội – Bộ Y tế – Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Tuy nhiên nhiều địa phương không thực hiện báo cáo nhanh các vụ tai nạn lao động nghiêm trọng và còn chậm gửi biên bản điều tra về Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội. Trong số 217 vụ tai nạn lao động chết người 6 tháng đầu năm, đến ngày 31/7/2008 Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội mới nhận được biên bản điều tra hoặc báo cáo nhanh của 69 vụ tai nạn lao động. Việc chậm trễ này được nhiều địa phương giải thích là do cơ quan Công an chậm bàn giao hồ sơ vụ tai nạn lao động sang đoàn điều tra tai nạn lao động cấp tỉnh (chưa đúng theo hướng dẫn tại TTLT số 01/2007/TTLT/ BLÐTBXH-BCA-VKSNDTC ngày 12/1/2007).

Các địa phương đã thực hiện điều tra TNLĐ khẩn trương, kịp thời và thực hiện nghiêm túc báo cáo nhanh các vụ tai nạn lao động nghiêm trọng là: Quảng Ninh, Tp. Hồ Chí Minh (Thành phố Hồ Chí Minh đã gửi biên bản điều tra và báo cáo nhanh của 35/35 vụ TNLĐ chết người).

2. Báo cáo tai nạn lao động.

Việc báo cáo tình hình tai nạn lao động theo mẫu mới quy định tại Thông tư liên tịch số 14/2005/TTLT-BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN ngày 08/3/2005 của Liên tịch Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội – Bộ Y tế – Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã được các địa phương thực hiện. Tuy nhiên một số địa phương vẫn chưa phân tích được tình hình TNLĐ nói chung mà chỉ thống kê được tổng số vụ TNLĐ chết người.

Nhiều địa phương chưa thống kê, báo cáo đầy đủ số doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn và số doanh nghiệp có báo cáo tình hình TNLĐ; một số chỉ tiêu trong mẫu báo cáo chưa cập nhật và tổng hợp đầy đủ hoặc thiếu chính xác, không logíc, thể hiện sự hời hợt trong công tác thống kê, báo cáo; gửi báo cáo về Bộ LĐTBXH chậm so với thời gian quy định (chỉ có 13/64 địa phương gửi báo cáo đúng kỳ hạn). Vì vậy việc tổng hợp đánh giá tình hình tai nạn lao động toàn quốc 6 tháng đầu năm 2008 gặp nhiều khó khăn.

Tình trạng Doanh nghiệp không báo cáo TNLĐ theo quy định ngày càng nhiều gây nhiều khó khăn cho công tác thống kê tai nạn lao động. Theo thống kê chưa đầy đủ trong 6 tháng đầu năm 2008 chỉ có 6.658 doanh nghiệp tham gia báo cáo chiếm 4,21% tổng số doanh nghiệp được thống kê. Hà Nội chỉ có 177 doanh nghiệp báo cáo chiếm 0,35% trên tổng số 50.318 doanh nghiệp; Đà Nẵng có 17 doanh nghiệp báo cáo, TP. Hồ Chí Minh có 130 doanh nghiệp báo cáo nhưng hai địa phương này chưa thống kê được tổng số doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn...

C. MỘT SỐ NỘI DUNG CHỦ YẾU CẦN THỰC HIỆN TRONG THỜI GIAN TỚI

Căn cứ vào tình hình và nguyên nhân xảy ra TNLĐ trong 6 tháng đầu năm 2008, để chủ động phòng ngừa TNLĐ trong thời gian tới, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đề nghị các Bộ, ngành, địa phương và các doanh nghiệp thực hiện tốt các nội dung chính sau đây:

1- Thanh tra Lao động tăng cường thanh tra việc thực hiện các quy định của Nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động ở tất cả các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Cần lưu ý đến các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và các lĩnh vực: xây dựng; lắp đặt, sửa chữa và sử dụng điện; khai thác khoáng sản và khai thác đá; sử dụng các thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động. Kiên quyết xử lý nghiêm minh, kịp thời đối với các hành vi vi phạm luật pháp lao động, đặc biệt đối với những hành vi không chấp hành nghiêm chỉnh công tác thống kê báo cáo TNLĐ, theo quy định tại Nghị định số 113/2004/NĐ-CP ngày 16/4/2004 của Chính phủ.

2- Các Bộ, ngành, tập đoàn, tổng công ty tăng cường kiểm tra và chỉ đạo các đơn vị thuộc quyền quản lý của mình thực hiện đầy đủ các quy định của Nhà nước về an toàn lao động, vệ sinh lao động và các chế độ BHLĐ. Tổ chức huấn luyện đầy đủ về an toàn lao động cho người sử dụng lao động theo quy định tại Thông tư số 37/2005/TT-BLĐTBXH ngày 29/12/2005 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội.

3- Người sử dụng lao động phải thường xuyên kiểm tra máy, thiết bị và cải thiện điều kiện làm việc để đảm bảo cho người lao động được làm việc trong môi trường an toàn; xây dựng đầy đủ các quy trình, biện pháp làm việc an toàn, vệ sinh lao động theo hướng dẫn tại các Tiêu chuẩn, Quy chuẩn kỹ thuật về an toàn lao động và hướng dẫn cho người lao động trước khi làm việc; tổ chức huấn luyện về an toàn lao động, vệ sinh lao động cho người lao động theo quy định tại Thông tư số 37/2005/TT-BLĐTBXH ngày 29/12/2005 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội; tăng cường công tuyên truyền, giáo dục cho người lao động tự giác chấp hành các quy định về an toàn, vệ sinh lao động. Đặc biệt chú ý đối với những người lao động làm các công việc nặng nhọc, nguy hiểm, độc hại hoặc tiếp xúc với những đối tượng có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, vệ sinh lao động.

4- Thực hiện tốt việc phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền để tiến hành điều tra kịp thời, chính xác các vụ tai nạn lao động chết người trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế để giúp các doanh nghiệp nhanh chóng ổn định sản xuất, kinh doanh sau khi tai nạn lao động xảy ra và đảm bảo thời gian điều tra, lập biên bản các vụ tai nạn lao động theo đúng quy định của pháp luật. Chú ý đến các doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy trình sản xuất phức tạp, độc hại, ảnh hưởng môi trường nhưng thiếu ý thức phòng ngừa TNLĐ.

5- Tăng cường công tác tuyên truyền pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động nhằm nâng cao trách nhiệm đối với các đơn vị, cơ sở sản xuất kinh doanh và người lao động để mọi người đều có ý thức cảnh giác và phòng ngừa tai nạn lao động./.

Hình ảnh ATVSLĐ

Tài liệu - Ấn phẩm

Thông tin bổ trợ